Hiệu lệnh chưa dứt …
-Này, người ta đang mặc niệm mà các ngài lại ôm eo nhau, lễ tang còn nghiêm túc?
-Do cái này – Câu đối cay như 1 nhát gừng
sinh Khương(1).
-Các người đã liêu tịch rồi sao còn “ngổn ngang gò đống” ở đây?
-Tại cái nọ – Lời đáp đắng như 1 nhát Khương
hoàng Nghệ.
-Thế là thế nào? Vẫn câu hỏi của cử tọa người Đức, bà Doris.
-Đó đó! Do mùi ôi của
sông Hy(2) mà tôi đi – Người này chỉ vào họa tiết như dòng sông màu phân người trong bức họa Nhật bản, ảnh 1– Và cũng do hương thơm của lạc nên tôi ở lại – Người kia chỉ vào 3 họa tiết như 3 củ lạc dựng đứng màu Hung(màu gạch nung) cũng trong bức họa Nhật bản, ảnh 1.
-Ồ… Tiếng ồ kéo dài rõ to như “nước chảy chỗ trũng”. Cử toạ đang chơi với “nỗi buồn”, ngỡ Thánh nhân Lão Lai tử(3) xuống thế, họ bỏ cuộc trở lại thì té… ra vẫn là bà Nothomb người Pháp và ngài Touxten người Ai cập mà chủ toạ Poebens tuyên ngôn đã chầu Giòi(4).

Chú thích:
(1) Gừng vị cay, tính ấm. Tác dụng kích thích tiêu hóa, giải biểu(cho ra mồ hôi), tán hàn(phát tán khí lạnh). Nghệ vị đắng, tính mát. Tác dụng yên Magen(dạ dày), mau chóng lên da non các vết loét… Cả 2 gừng và nghệ đều ích lớn cho Vị(Magen, dạ dày, bao tử).
Thời tiền sử, người Ai cập gọi người Trung hoa là Khương, Rợ
Khương.
(2) Hán tự nhiều âm “Hy”. Chuyện Đổng Thiên Vương hồi 6 Lĩnh Nam chích quái có đoạn: “Phía Tây Bắc nước ta giáp nước Thi La Quỷ. Vua nước ấy tên là Hy Bắc Kịch manh tâm thôn tính các nước xung quanh…” Hy
phần, BắcT
ây Bắc, Kịch
quá lắm. Hy Bắc Kịch là Phân Bắc quá lắm. Bạn đọc xem lại phương vị số 6 thành Thủy phương Tây bắc.
(3) Lai
là đến, đến sau ngược với khứ đi. Thời tiền sử người Trung hoa gọi Lão tử là người từ nơi khác đến. Bạn đọc xem lại lần nữa phương vị số 6 thành Thủy ở trên. Lão tử là con số 6 thành Thủy Lão âm thể Dụng chăng?
(4) Giòi
ấu trùng ruồi nhặng. Thời tiền sử người Ai cập mệnh danh là Trời(Trời sau, hậu thiên). Tránh phạm húy, người An nam đọc trại Giòi thành Giời cho giống Trời(do âm tiết ơi 2 chữ).