I – KINH DỊCH
1_ Hướng dẫn đọc Kinh dịch:
Giành nhiều thời gian cho Vũ trụ quan với học thuyết âm dương, ngũ hành (Hà đồ, Lạc thư), can chi, vận khí, bát quái…tiến tới đọc nhân sinh quan các quẻ kép.
Ứng dụng vào y lý, dưỡng sinh, phong thủy, lý số, Các loại hình văn hóa dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân ca, văn hóa cúng tế thờ tự.Giải mã chuyện cổ tích, truyền thuyết lịch sử, những chuyện lạ trong Lĩnh nam chích quái và một hai tác phẩm văn học cổ điển Trung quốc…
Thánh Gióng
I.THÁNH GIÓNG
Thánh Gióng trang 1
Thưa bạn đọc! Phần giải mã các truyền thuyết lịch sử bắt đầu bằng chuyện Thánh Gióng(tức Đổng Thiên Vương) trong cuốn triết học Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh. Trước khi vào chuyện chúng tôi dịch âm 4 chữ tiêu đề sách.
Lĩnh Nam là Nam Ngũ lĩnh. Ngũ là số 5 sinh Thổ, 1 trong 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Vị trí địa lý nằm giữa Đông Tây, chỗ rợp của 2 tỉnh Hồ Bắc Hồ Nam Trung Quốc. Lĩnh là nhận, nhận lấy. Theo thuyết Ngũ hành Thủy sinh từ phương Bắc thấm nhuận xuống phương Nam. Hỏa sinh từ phương Nam hun bốc lên phương Bắc. Hành Hỏa nhận tinh của hành Thủy giữa Trung ương. Lĩnh
là cái cổ. Phương Tây Bắc nơi Thủy sinh trước, phương vị quẻ Kiền Trời là đầu. Phương Đông Nam nơi Hỏa sinh sau là thân. Giữa đầu và thân là cái cổ. Lĩnh còn là đỉnh núi có cái hang thông ra đường cái. Bạn đọc nhìn chữ
: gồm chữ cái cổ có chữ Sơn ở trên.
Theo thuyết Âm Dương: Đường(rộng) thuộc Dương, Ngõ(hẹp) thuộc Âm. Hành Hỏa phương Nam thuộc Dương tức đường. Không có 1 đỉnh núi nào có cái hang thông ra đường cái. Chả nhẽ lại trèo lên đỉnh núi để từ một cái hang nhảy xuống đường cái quan ư? Lĩnh này tượng cho khu vực hỗn độn tức giai đoạn sinh của hành Thổ giữa Trung ương. Chúng ta sẽ gặp lại nó với cái gọi giặc Ân trong chuyện Thánh Gióng và có thể là nhân vật triết học Hỗn độn chương VII Ứng đế Vương Nam hoa kinh của Trang Tử. Như vậy chúng tôi đã dịch 2 chữ Lĩnh Nam trong 4 chữ: “Lĩnh Nam chích quái”. Lĩnh Nam là Nam Ngũ lĩnh, còn chích quái. Quái là quẻ
trong Kinh dịch. Chích là nướng, chữ Hỏa dưới, các đồ vật bị nướng trên
. Chích quái là quẻ nướng.
Trong Nam hoa kinh chương XXIX, Trang tử nói về đạo Chích: “Nơi hắn(tức Chích) đi qua, nước lớn phải giữ thành, nước nhỏ phải vào lũy”. Chích quái, dùng chữ chích được 2 điều. Một : phương Nam là phương lửa. Chích cũng là lửa, chữ chích Hán tự xếp ở bộ Hỏa. Hai: Như đã nói chích chữ Hỏa dưới, các đồ vật bị nướng ở trên. Chích tức Hỏa có khả năng buộc “nước(Thủy) lớn phải giữ thành, nước(Thủy) nhỏ phải vào lũy”. Đó là lòng tự hào của người Lĩnh Nam mà lịch sử đã kiểm chứng. Tổ tiên chúng ta rất thành công trong các cuộc kháng chiến chống giặc Bắc Thủy. 4 chữ Lĩnh Nam chích quái chúng tôi dịch: “Nước Nam quẻ lửa”.
Thưa bạn đọc! chuyện Thánh gióng trong Lĩnh nam chích quái của Vũ Quỳnh Nhà xếp ở hồi 6 nhưng chúng tôi giải mã trước.Một vì: cốt chuyện hấp dẫn, tình tiết chặt chẽ mà nếu bỏ yếu tố quỷ thần thì nó là chuyện của người.Hai: Nói tới Thánh gióng người dân Việt nam ai cũng biết đó là thiên tướng do trời phái xuống giúp người nước Nam chống lại giặc Ân.Thánh gióng là niềm tự hào của người Việt nam có cả chúng tôi thuở cắp sách tới trường.Rằng: nước nam ta từng có 1 vị tướng cầm quân giỏi như thần chỉ huy đại binh nhà Hùng đánh tan 30 vạn (tổng các số chẵn trong Hà đồ) quân Ân lại còn bay được lên trời và biến mất giữa không trung như lửa.Rằng: Thánh gióng là giấc mơ ngàn đời của dân tộc Việt vì tổ tiên chúng ta sinh ra và đứng tại nam hỏa thường bị giặc thủy bắc quấy nhiễu xâm lấn…Nhưng không, thưa bạn đọc!Thánh gióng không phải nhân vật chuyện người mà chuỵên trời, triết học.“Hồi 6, thời Hùng vương ngành thứ 6”.Ở chuyện Lạc long quân diệt ngư tinh hồi 2 thời Hùng vương ngành thứ 2.Chuyện Đầm dạ Trạch hồi 3 thời Hùng vương ngành thứ 3.Chuyện họ Hồng bàng đầu tiên mở nước hồi 1…Thưa bạn đọc! đời thường các con số vô nghĩa nhưng 10 số Hà đồ và 9 số Lạc thư là những số triết học.Chuyện Thánh gióng dùng đến 2 lần con số 6 ý hướng người đọc vào số thành của thủy 1 trong 5 hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Chúng tôi đang có trong tay 7 cuốn sách quan trọng cho việc giải mã chuyện Thánh gióng.
1-Kinh dịch.Bản dịch của Ngô Tất Tố.Nhà xuất bản văn học.
2-Mai hoa dịch.Tác giả Thiệu Khang Tiết.Bản dịch của ông Sơn Tùng.Nhà xuất bản văn hóa thông tin.
3-Nam hoa kinh.Tác giả Trang tử.Bản dịch của Nhượng tống.Nhà xuất bản văn học.Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông tây.
4-Hoàng đế nội kinh.Bản dịch của Ngô Tất Tố.Nhà xuất bản y học.
5-Hải Thượng Lãn Ông và tác phẩm Lãn Ông tâm lĩnh.Bác sỹ Nguyễn Văn Thang giới thiệu.Nhà xuất bản y học.
6-Tự điển Hán việt.Tác giả Thiều Chửu.Nhà xuất bản thanh niên.
7-Tân đính Lĩnh nam chích quái.Tác giả Vũ Quỳnh.Nhà xuất bản khoa học xã hội 1993.
Ngoài ra còn có Đạo đức kinh, Kinh dịch đạo người quân tử của Nguyễn Hiến Lê.Đại việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên.Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim.Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi.Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan.Dịch học nhập môn của Lý Diên… Những sách trên tuy hay nhưng tạm thời chúng tôi chưa dùng đến.Mời bạn đọc chuẩn bị Kinh dịch, Mai hoa dịch, Nam hoa kinh, Lĩnh nam chích quái và Tự điển Hán việt theo dõi quá trình giải mã Lĩnh nam chích quái.(Từ đây chúng tôi chỉ nói tiêu đề sách)
Lĩnh nam chích quái viết: “Hồi 6, thời Hùng vương ngành thứ 6” trong chuyện: “Các bô lão đến sân rồng cấp báo, Đổng thiên vương vây đánh bại giặc Ân”.Đúp số 6 như đã nói tác giả chuyện có ngụ ý.Hai con số 6 làm chúng tôi nghĩ tới con số “7 ngày”, “7 Khiếu” trong chuyện vui Thúc, Hốt, Hỗn độn của Trang Tử.
Trang tử là một Triết gia.Không giống nhà giảng đạo, những vấn đề Triết học đông phương được cụ hóa văn.Như: Đạo chích (lửa chương VII), Chim bằng (nước chương I), Bào đinh trâu (Cây chương III)… Ba mươi ba chương trong Nam hoa kinh chương nào cũng đẹp như chương.Vì thế hai nhà dịch bình Nhượng Tống và Lâm Tây Trọng họ chỉ tiêu văn mà chưa muốn đào xới phần gốc.Nam hoa kinh của Trang Tử là sách Triết.Mời bạn đọc câu chuyện Hỗn độn trang 95 chương VII trước khi vào chuyện Thánh gióng.
Chúa bể nam là Thúc.Chúa Bể Bắc là Hốt.Chúa khu giữa là Hỗn độn.Thúc cùng Hốt thường gặp nhau trên đất của Hỗn độn.Hỗn độn đãi họ rất tử tế.Thúc cùng Hốt mưu trả ân Hỗn độn, nói rằng:“Người ta đều có 7 khiếu để trông, nghe, ăn, ngửi.Riêng ông này không có.Ta đục thử xem.Ngày đục 1 khiếu, 7 ngày mà Hỗn độn chết”.
Chúa là ngôi cao gần như vua, vương thường chiếm cứ một vùng đất.Bể đây không phải nơi hội tụ sông ngòi mà bể sinh ra muôn loài.Thúc là hành hỏa, Hốt là hành thủy.Hỗn độn là hành thổ.
Thánh Gióng trang 2
Nước Nam còn gọi Nước Việt. Chúng tôi bàn ngoài 1 chút về Việt. Có nhiều chữ Việt như Sao Việt, Nước Việt, chỗ rợp giữa 2 bóng cây cũng gọi là Việt. Việt trong tên nước Nam lấy ý từ
Việt: tan, phát dương ra. Trong nhóm Việt “phát tán” có một tia hướng thẳng phương Nam là nước Nam Việt. Hồi đó còn ở khoảng giữa tỉnh Hồ Nam và 2 tỉnh Quảng Đông Quảng Tây Trung Quốc. Trải qua mọi biến động lịch sử Nam Việt bị đẩy xuống thành nước Việt Nam bây giờ. Thôi, Lĩnh Nam Nam Việt hay Việt Nam, Nam vẫn là thánh địa của Dương Hỏa. Ngoài ý chí con người, Nước Nam vẫn chịu sự chi phối của vũ trụ, cái mà ta gọi là Trời. Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập trong quá trình giải mã 25 hồi cuốn Lĩnh Nam chích quái. Bây giờ mời bạn đọc “Vào thăm lâu đài cổ quái nhưng xinh đẹp trong vườn Sơn”(Lời dẫn Nam Hoa Kinh của Nhượng Tống, chúng tôi mượn cho Lĩnh Nam chích quái).
Thưa bạn đọc! Chuyện Thánh Gióng trong Lĩnh Nam chích quái xếp ở hồi 6 nhưng chúng tôi giải mã trước. Một vì: Cốt chuyện hấp dẫn, tình tiết chặt chẽ mà nếu bỏ yếu tố quỷ thần thì nó là chuyện của Người. Hai là: Nói tới Thánh Gióng người dân Việt Nam ai cũng biết đó là Thiên tướng do Trời phái xuống giúp người Nước Nam chống lại giặc Ân. Thánh Gióng là niềm tự hào của người Việt Nam có cả chúng tôi thuở cắp sách tới trường. Rằng: Nước Nam ta từng có 1 vị tướng cầm quân giỏi như thần. Chỉ huy đại binh Nhà Hùng đánh tan 30 vạn quân Ân lại còn bay được lên Trời và biến mất giữa không trung như lửa. Rằng: Thánh Gióng là giấc mơ ngàn đời của dân tộc Việt. Vì tổ tiên chúng ta sinh ra và đứng lên tại Nam Hỏa thường bị giặc Bắc Thủy quấy nhiễu xâm lấn…
Thánh Gióng trang 3
Chúng tôi đang có trong tay 7 cuốn sách quan trọng cho việc giải mã Lĩnh Nam chích quái.
1-Kinh dịch, bản dịch của Ngô Tất Tố, Nhà xuất bản Văn học.
2-Mai hoa dịch, tác giả Thiệu Khang Tiết, bản dịch của ông Sơn Tùng, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin.
3-Nam hoa kinh, tác giả Trang Tử, bản dịch của Nhượng Tống, Nhà xuất bản Văn học, trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
4-Hoàng đế nội kinh, bản dịch của Ngô Tất Tố, Nhà xuất bản Y học.
5-Hải Thượng Lãn Ông và tác phẩm Lãn Ông tâm lĩnh, bác sỹ Nguyễn Văn Thang giới thiệu, Nhà xuất bản Y học.
6-Tự điển Hán Việt, tác giả Thiều Chửu, Nhà xuất bản Thanh niên.
7-Tân đính Lĩnh Nam chích quái, tác giả Vũ Quỳnh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1993.
Ngoài ra còn có Đạo đức kinh, Kinh dịch đạo người quân Tử của Nguyễn Hiến Lê. Đại việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi. Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan. Dịch học nhập môn của Lý Diên… Những sách trên tuy hay nhưng tạm thời chúng tôi chưa dùng đến. Mời bạn đọc chuẩn bị Kinh dịch, Mai hoa dịch, Nam hoa kinh, Lĩnh Nam chích quái và Tự điển Hán Việt theo dõi quá trình giải mã Lĩnh Nam chích quái(Từ đây chúng tôi chỉ nói tiêu đề sách).
Lĩnh Nam chích quái viết: “Hồi 6, thời Hùng Vương ngành thứ 6” trong chuyện: “Các bô lão đến sân rồng cấp báo, Đổng Thiên Vương vây đánh bại giặc Ân”. Đúp số 6, tác giả chuyện có ngụ ý. Con số 6 làm chúng tôi nghĩ tới con số “7 ngày”, “7 Khiếu” trong chuyện Thúc, Hốt, Hỗn Độn chương VII Nam hoa kinh của Trang Tử.
Trang Tử là một Triết gia. Nhưng không giống nhà giảng đạo, những tư tưởng triết học Đông phương được cụ hóa văn. Như: Đạo chích(Lửa, chương XXIX), Chim bằng(Nước, chương I), Bào đinh mổ trâu(Cây, chương III)… Ba mươi ba chương trong Nam hoa kinh chương nào cũng đẹp như chương. Vì thế hai nhà dịch bình Nhượng Tống và Lâm Tây Trọng họ chỉ tiêu văn mà chưa muốn đào xới phần gốc. Nam hoa kinh của Trang Tử là sách triết. Mời bạn đọc câu chuyện Hỗn Độn trang 95 chương VII trước khi vào chuyện Thánh Gióng.
Chúa bể Nam là Thúc. Chúa Bể Bắc là Hốt. Chúa khu giữa là Hỗn Độn. Thúc cùng Hốt thường gặp nhau trên đất của Hỗn Độn. Hỗn Độn đãi họ rất Tử tế. Thúc cùng Hốt mưu trả ân Hỗn Độn, nói rằng: “Người ta đều có 7 khiếu để trông, nghe, ăn, ngửi. Riêng ông này không có. Ta đục thử xem. Ngày đục 1 khiếu, 7 ngày mà Hỗn Độn chết”.
Thánh Gióng trang 4
Chúa ngôi cao như vua thường chiếm cứ một vùng đất. Bể đây không phải nơi hội tụ sông ngòi mà bể sinh ra muôn loài. Thúc hành Hỏa, Hốt hành Thủy. Hỗn Độn hành Thổ. Khu
là vùng đất được chia ra. Khu còn là phần thân thể xác thịt. Trong con người thân thuộc âm Thổ, đầu thuộc dương Trời. Thuỷ sinh đầu tiên ở phương Bắc số 1. Hỏa sinh ở phương Nam số 2. Mộc sinh ở phương Đông số 3. Kim sinh ở phương Tây số 4. Thổ sinh ở Trung ương số 5. Chúng ta chú ý con số 5. Đây là số của chữ Ngũ lĩnh, nó sẽ là số của nhân vật Hỗn Độn và giặc Ân
chuyện Thánh Gióng.
Vẫn chuyện Chúa bể Nam, Chúa bể Bắc, Chúa khu giữa. Hốt là nhanh chóng lấy ý từ 2 chữ Thúc Hốt![]()
Hốt là anh Chú, Trang tử không gọi Bác vì có Thúc thì trước đó đã có Bác. Bác là số 1 sinh thủy tại Bắc chếch Tây khoảng 36 độ phương Tây Bắc. Thúc là số 2 sinh Hỏa tại Nam chếch Đông cũng khoảng 36 độ hướng đảo Côn lôn phương Đông Nam. Bạn đọc chú ý số 2 là chẵn, ngẫu, âm số, Trang tử không gọi Tỉ mà Thúc vì tuy sinh sau Thủy nhưng Hỏa thuộc dương. Chữ Thúc cũng là nhanh chóng lấy ý từ 2 chữ Thúc Hốt![]()
. Hỗn Độn
là bầu có chẵn lẻ, Âm Dương còn lộn xộn. Các con số 1, 2, 3, 4, 5 mở đầu cho giai đoạn sinh của 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bạn đọc xem hình A.
Thánh Gióng trang 5
Kinh dịch nói “Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo”. 1 sinh 1 thành nên đạo. Ngũ hành mới sinh, giữa Trung ương chưa có hiện tượng gì. Bạn đọc xem hình 1A. Trong 5 số sinh của Ngũ hành số 5 ngôi cao nhất. Hẳn bạn đọc nhớ 10 can thuyết Can Chi, Giáp vị trí số 1 cũng ngôi cao nhất. Chúng ta sẽ gặp chữ “giáp” tức số 5 sinh Thổ ngôi cao nhất chuyện Đổng Thiên Vương tức Thánh Gióng dòng 7 trang 80 “phía Tây Bắc giáp nước Thi La Quỷ” và dòng 17 trang 86 “quân Ân cởi giáp chạy trốn”.

Vẫn Hỗn Độn: “Thúc cùng Hốt thường gặp nhau trên đất của Hỗn Độn”. Thường
lâu dài mãi mãi. Bạn đọc nhìn sơ đồ giai đoạn sinh của 2 hành Thủy Hỏa hình 1A. Thủy có tính thấm nhuận xuống phương Nam. Hỏa có tính hun bốc lên phương Bắc. 2 hành gặp nhau giữa Trung ương Thổ nên gọi thường. “Hỗn Độn đãi họ rất tử tế”. Đãi
lâu dài mãi mãi. Bạn đọc nhìn sơ đồ giai đoạn sinh của 2 hành Thủy Hỏa hình 1A. là chờ đợi, xử với người như đối đãi. Trong Lạc thư(ngũ hành tương khắc) Thổ khắc Thủy. Hỗn Độn khắc Hốt nên “đối”. Còn trong Hà đồ(Ngũ hành tương sinh) Hỏa sinh Thổ. Thúc là mẹ Hỗn Độn nên đãi. Cả 2 trường hợp khắc: Hỗn Độn khắc Hốt, (Thổ khắc Thủy)sinh: Thúc sinh Hỗn Độn(Hỏa sinh Thổ) là 2 mặt Âm Dương tương phản. Dịch có câu “âm dương đối đãi nhau”, Trang Tử lấy từ ý này mà dùng “đãi”.
Thánh Gióng trang 6
“Hỗn Độn đối đãi họ rất tử tế”. Tử tế là có trước sau như đối đãi. Tử tế còn là cúng sự chết. Mà cúng sự chết bao giờ cũng đủ lễ bộ nọ kia vì như thế mới “mồ yên mả đẹp”. Thực thế, nhân vật Hỗn Độn Thổ Trung ương yên vị. Ông ta còn chờ(đãi) Hốt, hành Thủy phương Bắc vào giai đoạn thành 6 với câu: “Đất lấy số 6 mà làm cho thành Thủy” Kinh dịch. “Thúc cùng Hốt mưu trả ân Hỗn Độn”. Như đã nói ân
là chính giữa. Ân còn là to lớn ý số 5. Mưu
là toan tính, lo liệu.
Chuyện Thánh Gióng có câu: “Ta không lo liệu sợ chúng bắn đạn đá”. Trang Tử dùng Chữ, (mưu toan)Lĩnh Nam chích quái dùng Nôm(lo liệu). Cả hai đều dùng 2 con số 5 sinh Thổ và 7 thành Hoả từ ngạn ngữ “năm lo bảy liệu”. Lo là lo nghĩ. Theo Đông y Tỳ(lá lách) ứng với số 5 giữa Trung ương thuộc Thổ, chí là lo(nghĩ). Liệu
là toan tính, lo liệu. là cháy lan, tim con người ứng với số 7 thành Hoả phương Nam, chí là vui(lạc). Ta đã biết 2 con số: 5 sinh Thổ và 7 thành Hoả. Vậy trước con số 7 thành Hoả đã có số 6 thành Thuỷ. Vì như giai đoạn sinh, giai đoạn thành của Ngũ hành cũng được bắt đầu từ hành Thuỷ. “Thúc cùng Hốt nói rằng: Người ta đều có 7 khiếu để trông nghe, ăn, ngửi. Riêng Ông này không có ta đục thử xem. Ngày đục một khiếu. 7 ngày mà Hỗn Độn chết”. Thử là nóng. Tháng nóng thử là tháng 6 âm lịch, tháng cuối hè ứng phương Tây Nam thuộc Hỏa. Ngày thuộc dương(đêm thuộc âm). Hỏa thuộc dương(Thủy thuộc âm). Số 7 thuộc dương(số 6 thuộc âm). Các khái niệm:“liệu”, “thử”, “7 ngày” Trang Tử cho chúng ta biết đặt vấn đề của cụ là con số 7 thành Hỏa. Bạn đọc xem hình 2A.
“Người ta đều có 7 khiếu”. 9 khiếu chứ! Đông y cho rằng cơ thể con người có 9 cái lỗ. Cửu khiếu nhưng Trang Tử nói thất vì 2 lẽ. Thứ nhất: Hướng người đọc vào số 7 thành Hoả Thúc.

Thất khiếu. Khiếu không chỉ lỗ mà còn là kiện, khiếu kiện. Như đã nói, Ngũ tạng con người thì Tỳ(lá lách) thuộc Thổ ứng số 5 giữa Trung ương. Vậy nên khi Tỳ vận hoá kém phải dùng phép chữa gọi là kiện Tỳ. Hỗn Độn Thổ đứng số 5 là dương số, ngôi cao nhất trong 5 số sinh của Ngũ hành bế tắc lộn xộn nên Trang tử dùng khiếu. Đó là lẽ thứ nhất. Lẽ thứ 2 trong Hà đồ 5 là số sinh Thổ, 10 là số thành thổ.Bạn đọc xem hình 3A.
Thánh Gióng trang 7
Như 4 hành Kim Mộc Thủy Hỏa, Thổ cũng có 2 giai đoạn sinh thành. Giai đoạn sinh là số 5. (5 là lẻ, cơ, dương số gọi số Trời)Giai đoạn thành là số 10. (10 là chẵn, ngẫu, âm số gọi số Đất)Thất khiếu, Hỗn Độn mới có 7 trong 9, còn 2 cái nữa chúng ở đâu ?
Cũng theo Đông y, đầu con người ta thuộc dương Trời, thân thuộc âm Đất. 7 khiếu của Hỗn Độn mà Trang Tử dùng là 2 con mắt trông, 2 tai nghe, 1 miệng ăn, 2 lỗ mũi ngửi đều nằm ở phần đầu. Tức Trang Tử chỉ đề cập đến số 5 dương Trời giai đoạn sinh, không Động gì đến số 10 âm Đất thành Thổ. Cụ thừa biết cơ thể con người có 9 cái lỗ. Nhưng vì dụng con số 7 thành Hoả phương Nam mà bỏ 2 lỗ còn lại trong 9 cái ở phần thân. Như đã nói, nhân vật Hỗn Độn tượng cho số 5 Thổ giai đoạn sinh trước, đầu. (không tượng cho số 10 giai đoạn thành sau, thân)Đây là lẽ thứ 2 Trang Tử dùng thất khiếu.
Vẫn chuyện Hỗn Độn “Người ta đều có 7 khiếu để trông, nghe, ăn, ngửi. Riêng ông này không có ta đục thử xem”. Riêng ngược với chung. Nói riêng vì Hỗn Độn đứng ở số sinh 5 chưa có số 10 thành để gọi “thân chung”. Ông ta vẫn “cô dương”. Trong 5 số sinh Ngũ hành, Hỗn Độn số 5 dương số, số Trời và là ngôi cao nhất nên gọi Ông. “Ông” vì chưa có Bà để âm dương công dụng.
Riêng Ông “này”. Này từ cặp “này nọ” thành ngữ. “Này” hữu hình thuộc âm tức Hỗn Độn vẫn đơn sinh. Vật thuộc âm, dù Hỗn Độn đứng ngôi chí tôn số 5 vẫn là vật, “vật này”. Ông ta còn thiếu vế thứ 2 “nọ” để chấm dứt tình trạng mờ mịt khu giữa. Trang Tử gọi Hỗn Độn, Lĩnh Nam chích quái gọi giặc Ân. “Thúc cùng Hốt mưu trả ân”. Trả ân là trả lại trạng thái bình thường cho Thổ giữa Trung ương. Như đã nói ở trên, biết số 7 Thúc là đã biết số 6 Hốt. Vì cũng như sinh, giai đoạn thành của Ngũ hành, Thủy vào trước Hỏa. Thủy vào trước(đủ 2 số sinh 1 thành 6) Thổ Trung ương không còn yên vị. “Thúc Hốt” chớp nhoáng số 7 thành Hỏa vào theo (đủ 2 số sinh 2 thành 7). Thủy Hỏa cân bằng, số 5 sinh Thổ hết Hỗn Độn. “Mưu” của Trang Tử, “lo liệu” của Thánh Gióng Lĩnh Nam chích quái từ tính triết học này.
Thánh Gióng trang 8
Thơ Văn Phú Lục của ta phàm thể 4 chữ thì 2 chữ “tỏ”, 2 chữ còn lại “mờ”. Lĩnh Nam chích quái thì Lĩnh Nam “tỏ”, chích quái “mờ”. Lại trong 2 chữ “mờ” thì quái là “tỏ”, chữ chích kia phải để cho người đọc suy ngẫm. Mờ tỏ là 2 mặt đối lập mới thành công dụng Văn. “Ý tại ngôn ngoại” là thế. Chúng tôi lấy ví dụ: Trước cổng đền Hùng Vương treo một bức hoành đề 4 chữ![]()
![]()
![]()
. Nếu nhìn mặt chữ mà dịch ngay: Núi cao, cảnh đẹp cứ thế mà đi. Nếu dịch vậy chỉ được 1 nửa câu Phú, mà vì chỉ được một nửa nên văn chẳng có ý tứ gì cả. Cao sơn là núi cao rồi. Chữ
là cảnh vật, Không phải cảnh Trời.![]()
![]()
![]()
Chúng tôi dịch: Cao Sơn cảnh hạng.
Ở chuyện Thúc Hốt Hỗn Độn chúng tôi đã nói về con số 9, 9 khiếu. Bạn đọc xem hình 4A. Nguyên số 9 trong Hà đồ là số thành của hành Kim phương Tây. Chúng tôi tóm lược 10 con số Hà đồ.
- Thuỷ sinh đầu tiên ở Bắc tượng là số 1, số thành là 6.
- Hoả sinh ở Nam tượng là số 2, số thành là 7.
- Mộc sinh ở Đông tượng là số 3, số thành là 8.
- Kim sinh ở Tây tượng là số 4, số thành là 9.
- Thổ sinh ở Trung ương tượng là số 5, số thành là 10.
Bạn đọc xem hình 5A, vận hành của Hà đồ. Hà đồ khởi từ Bắc sang Đông vì Thuỷ sinh Mộc, Đông sinh Xuân. Tiếp từ Đông sang Nam vì Mộc sinh Hỏa, Xuân sinh Hạ. Từ Nam vào giữa Trung ương vì Hoả sinh Thổ, Hạ sinh Trưởng Hạ. Giữa Trung ương sang Tây vì Thổ sinh Kim, Trưởng Hạ sinh Thu. Từ Tây lại trở về Bắc vì Kim sinh Thuỷ, Thu sinh Đông.

Hà đồ là vòng quay 1 năm. Ngoài 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, 1 năm có thêm 1 mùa nữa gọi là mùa Trưởng Hạ. Trưởng Hạ(thử) tháng 6 âm lịch, ứng phương Tây Nam, quẻ Khôn Hậu Thiên bát quái, chi Mùi trong 12 địa chi.
Thánh Gióng trang 9
Các số Hà đồ và Lạc thư. Hà đồ có 10 số, Lạc thư có 9. Trong 9 số Lạc thư thì số 9 ở ngôi cao nhất. Để ứng dụng Ngũ hành tương khắc và Văn hoá. Từ vị trí số thành của Kim phương Tây, người ta chuyển nó về Nam hoán cho 2 số sinh thành của Hỏa. Bạn đọc xem hình 6A và vận hành của Lạc thư hình 7A. Hà đồ vận hành từ trái sang phải theo chiều Ngũ hành tương sinh. Lạc thư vận hành ngược lại theo chiều Ngũ hành tương khắc. Khởi từ Bắc sang Tây vì Thủy khắc Hỏa. Từ Tây sang Nam vì Hỏa khắc Kim. Từ Nam sang Đông vì Kim khắc Mộc. Từ Đông vào giữa Trung ương vì Mộc khắc Thổ. Giữa Trung ương lên Bắc vì Thổ khắc Thủy.
Hà đồ của người phương Bắc. Lạc thư. Lạc
là vui thích. (tuần phương Nam là thú của các ông vua ngày xưa)Lạc còn là Âm nhạc như Ngũ thanh, Bát âm. Thư
là tiếng thông dụng cho con gái(ngược với thư là hùng, thư hùng). Hỏa Nam sinh sau Thủy Bắc. Sau thuộc Âm(trước thuộc Dương). Đất thuộc Âm(Trời thuộc Dương). Số chẵn thuộc Âm(số lẻ thuộc Dương). Con gái thuộc Âm(con trai thuộc Dương). Lạc thư của người phương Nam.
Người xưa cho là Đông, phương mặt trời mọc(trước) thuộc Dương. Tây, phương mặt trời lặn(sau) thuộc Âm. Thực ra phương Nam gần đường xích đạo nóng thuộc Dương(Xích là màu đỏ thuộc Hỏa, Hỏa thuộc Dương). Ta thấy quẻ ly
Hậu Thiên bát quái, quẻ Kiền
Tiên Thiên bát quái, quẻ Kiền
sáu vạch vị Nam. Ta thấy thêm ở 1 cái lễ ngày xưa gọi là lễ cầu Trời. Hàng năm ngày 9 tháng 9 vua tôi phải trai giới 3 ngày, quỳ gối xuống đất gọi là Đàn Nam giao. Ngửa mặt lên trời Nam cầu cho mưa thuận gió hoà dân an quốc tháí. Ý nghĩa “Dương” “Trời” ở con số 9 Lạc thư vậy, nên ngày 9 tháng 9 âm lịch là ngày duy nhất gọi trùng, Trùng cửu.


Lại nữa, phương Nam ứng với phương Bắc, Hỏa đối Thủy. Số 9 tượng lão dương Nam ứng với số 6 tượng lão âm Bắc, Sơn đối Thủy. “Voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao”. Sơn tinh Thủy tinh là chuyện triết học. Chủ đề: Cuộc chiến của nguyên khí phương Nam chống sự lấn quyền lãnh thổ của nguyên khí phương Bắc. “Hùng Vương ngành thứ 18”. 18: 1+8=9, Lạc thư vận hành xong 1 vòng , hồi đó sự sống Bắc Thủy đã tràn xuống Nam Hỏa. Cuộc chiến Sơn tinh Thủy tinh còn là cuộc đối đầu văn hoá giữa 2 con số 9 sơn Lão dương với con số 6 Thủy Lão âm. Đây là 1 trong nhiều vấn đề triết học được các nhà Nho diễn hệt chuyện Người. 2 cuốn Nam hoa kinh của Trang Tử, Lĩnh Nam chích quái và có thể là Tam quốc diễn (nghĩa?), Tây du ký… là ví dụ. Bạn đọc xem hình 8A.
Thánh Gióng trang 10
Miên man quá xin lỗi bạn đọc! Chúng tôi muốn về với “ông Hỗn Độn” nhưng đang dở dang 4 chữ Cao Sơn cảnh hành trên bức hoành trước cổng đền Hùng Vương.![]()
![]()
![]()
Chúng tôi dịch 2 kiểu: Dịch chữ(còn gọi là vọng dịch, nhìn chữ để dịch). Dịch âm(còn gọi là văn dịch, nghe âm để dịch). Phải như vậy vì chúng tôi thấy các cụ chúng ta ngày xưa Nho học uyên thâm. Thêm nữa Hán tự âm nghe giống nhau nhưng nghĩa lại hoàn toàn khác hẳn.![]()
![]()
![]()
: Cao Sơn cảnh hạng! Đây là vọng dịch kiểu 1, chữ
là hạng.
Tại sao gọi hạng? “Núi cao” tức số 9 Sơn ở ngôi cao nhất trong 9 số Lạc thư như đã nói. Nếu dùng văn hóa xếp hạng thì Sơn chúng ta hạng nhất, nhì(người xưa phân hạng chỉ có 2: nhất nhì, tốt xấu). Cao sơn phương Nam! Chúng tôi thêm chữ “phương Nam” vì nói núi là nói phương Tây, núi thiên nhiên. Cũng như Thái Sơn bên Tàu, núi ở đền Hùng Vương không lấy gì làm cao so với Himalaya phương Tây Bắc nhưng lại cao. Cao đây là khoảng độ văn hoá. Hạng, Hán tự có
nhưng các cụ chúng ta không mà lại dùng chữ
thay vì là ngụ ý. Đó là tác giả câu Phú đón lõng người đọc để “ngôn ngoại” văn dịch kiểu 2.
Thánh Gióng trang 11
Thưa bạn đọc! Chúng tôi rất nhớ ông Hỗn Độn trong chương VII Nam hoa kinh của Trang Tử. Nhưng tại 7 khiếu ông ta mà dụng Cửu, dùng con số 9 khiếu của Người. Lại từ số 9 Lạc thư phải “dây cà dây muống” leo “Cao sơn cảnh hạng”. Bạn đọc thông cảm!![]()
![]()
![]()
Chúng tôi dịch kiểu 2:
Cao Sơn cảnh hạng là 1 câu Phú. Luật trắc bằng của Phú rất đơn giản nhưng nghiêm khắc. 4 chữ thì chữ thứ 2, chữ thứ tư khác thanh là được. Ví như: “Trời nồm tốt mạ”, “Bĩ cực thái lai”, “Ngựa tế Đồng nai”, “ Lĩnh Nam chích quái”…Cao Sơn cảnh hạng. Hạng lẽ ra phải dùng chữ này
. Nhưng tác giả câu Phú tin chắc sẽ có người đọc Cao Sơn cảnh hành; Do
trên dưới 10 âm và cũng ngần ấy ngữ nghĩa. Hành tức đi là nghĩa thứ nhất.
Cũng như thơ, luật trắc bằng của Phú nhằm đảm bảo tính nhạc điệu. Bởi thế, đọc![]()
![]()
![]()
ra “Cao Sơn cảnh hành” là thất luật, phi nhạc điệu. Cả 2 cái “thất” và “phi” làm cho Phú nghe buồn cười. Nếu có 9 suối chốn Cửu tuyền thì các cụ chúng ta chẳng “ngậm”, chắc chắn sẽ bật lên rằng: “Hậu sinh Nhạc Sơn! Thật uổng 2 chữ Âm luật cho tên ngươi. Đọc vậy mà Lạc Nhạc nghe được ư? Đã thế cho biết: âm hành ngươi đọc chúng ta nghe để dịch là “Ngọc”, Cao Sơn cảnh Ngọc!
Thú thật với bạn đọc chúng tôi rất hoang mang mà tự hỏi: Tại sao lại Ngọc? Hành
cơ mà! Đây mới là Ngọc
. Mà Ngọc thì Ngọc nào? Ngọc Thôi lượng, Thôi vĩ, Toại châu…Ngọc Hoàng chúa tể Trời Đông hay Ngọc hoa Công chúa, Giếng Ngọc, Ngọc phả?…
Như ở phần giải 4 chữ Lĩnh Nam chích quái, nước Việt Nam ngày nay hướng chính Nam. Còn Lĩnh Nam ngày xưa hướng Đông Nam ứng với phương quẻ Thiên Trạch Lý trong viên đồ 64 quẻ kép. Bạn đọc xem hình 9A.
Thánh Gióng trang 12
Trước quẻ Thiên Trạch Lý là quẻ Địa thiên thái. Hai quẻ thì Thái đọc trước Lý đọc sau; Đọc từ phải sang trái theo chiều vận hành của Lạc thư. Thái đọc trước; Người phương Bắc lấy quẻ Thái làm phương vị bởi họ đứng ở phương Bắc Thủy sinh trước nên phải trước. Lý đọc sau; Lĩnh Nam phương Hỏa sinh sau Bắc Thủy phải chấp nhận lấy quẻ Lý làm phương vị. Dễ nhận thấy chữ Lý có trong danh gọi các triều đại phong kiến nước ta như Lý Nam Đế, Lý Thái Tổ, Lý Công Uẩn… Đặc biệt trong dân ca Lý rất nhiều, điệu hát này tập trung chủ yếu ở Trung Nam bộ. Rõ càng đi sâu vào phương Lý thì điệu Lý nở rộ xuân bông. Miền Bắc có duy nhất Lý quán dốc còn Trung Quốc thì tuyệt nhiên không.
Nói tới Lý, chúng tôi dừng lại đôi điều về họ Lý Long Tường. Họ Lý, tên Lý người phương Bắc có. Nhưng Lý Long Tường là… 1 họ lấy ý từ chữ
Lý dép quẻ Thiên Trạch Lý trùng quái phương Đông Nam. Long là rồng tượng cho hành Hỏa cũng Đông Nam. Trong kiến trúc cổ có 1 kiểu gọi là “thành quách”. Thành ở trong, quách ở ngoài. Thành còn gọi tường tức trong. Như đã nói, Hỏa sinh sau, Âm. Số 2 là ngẫu, số chẵn, Âm. Phương Đông Nam thấp, Âm. Trong thuộc Âm(ngoài thuộc Dương). Dù phương Nam nóng, sáng(phương Bắc lạnh tối) chúng ta vẫn nói vào Nam tức đi vào trong tường, thành. “Cây”, “hoa” là tượng hình vật 2 quẻ chấn và tốn trong Hậu Thiên bát quái Mai hoa dịch. Quẻ chấn chính Đông, quẻ tốn Đông Nam. Sơn là số 9 Lạc thư cũng Đông Nam. Hoa Sơn là hiệu của họ Lý Long Tường. Vậy Lý Long Tường là Lý của người phương Nam.
Phương Đông Nam hướng quẻ Lý là biển. (Phật giáo gọi Nam hải)Ngoài đó có
Côn sơn. Sơn là số 9 Lạc thư. Côn là côn Ngọc anh em
lấy ý từ 2 hành Thủy Hỏa Thúc Bá của Trang Tử. Côn
là hỗn diệu rực rỡ chói lọi vì Đông Nam phương mặt trời mọc nóng sáng.
Côn là cá côn. Cá còn đọc cả, đại nghĩa Nam Hỏa cũng là phương lớn, hành lớn đối trọng ngang bằng với Bắc Thủy.
Tương truyền ngoài Nam hải có 3 hòn đảo Tiên. (3 là số sinh của hành Mộc bên trái Đông)Trong đó có một hòn gọi là Châu dinh, nhà Ngọc. Có cả Ngọc trai, những đứa con của Mỵ Châu, vùng đất Ngọc còn ngủ say mộng mị trong truyền thuyết An Dương Vương. Lại có cả Ngọc hành, 1 loài thảo dược bổ dương tráng vật… Ôi Lĩnh Nam ta nhiều Ngọc quá! Ngọc nào các nhà Nho văn dịch cho 4 âm “Cao Sơn cảnh hành” đây?
Thánh Gióng trang 13
Nói Đông ngoài chính Đông có thêm Đông Nam. Tương tự Tây, ngoài chính Tây còn thêm Tây Bắc. Trong Hậu Thiên bát quái hai quẻ kiền Trời và đoài Trạch thuộc Kim vì Kim sinh thành tại Tây. Bạn đọc xem hình 10A.

Vũ trụ có 4 phương chính Đông Tây Nam Bắc. Âm Dương là đối xứng. Đông đối Tây, Nam đối Bắc. Hai phương Bắc Nam tuy đối xứng nhưng người xưa không cho là Âm Dương. Vì 2 hành Thủy Hỏa, tuy Thủy dập tắt Hỏa nhưng Hỏa có khả năng biến Thủy thành dạng hơi. Như mặt trời là một thứ lửa đốt nóng trái đất. Hơi nước ở các sông ngòi, hồ ao, biển cả bốc lên cao. Ở trên cao hơi nước gặp lạnh ngưng thành nước rơi trở về trái đất. Chu trình này cứ diễn năm này qua năm khác. Thêm nữa “Âm trung chi Dương, Dương trung chi Âm”. Tuy sinh trước, số 1 cơ, Dương nhưng Thủy thuộc Âm. Sinh sau, số 2 ngẫu, Âm nhưng Hỏa lại thuộc Dương. Nghĩa là Thủy thì trong Âm có Dương, Hỏa thì trong Dương có Âm. 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì 2 hành Thủy Hỏa quan trọng nhất cho sự sinh hoá vạn vật. Là 2 thứ “kỳ phùng địch thủ”.
2 phương Đông Tây mới biểu đạt cho Âm Dương. Phương Đông mặt trời mọc người xưa đọc trước. Phương Tây mặt trời lặn đọc sau. “Đấng Thánh nhân quay mặt về phương Nam trị vì thiên hạ”. Phía tay trái đọc trước, tay phải đọc sau. Như “tả dực hữu dực”, “Đông đào Tây liễu”. “Xuân Thu”: Mùa xuân ứng phương Đông bên trái, mùa thu phương Tây bên phải. “Ba thu”: số 3 sinh Mộc bên trái Đông, mùa thu ứng bên phải Tây. Ba Thục: số 3 sinh Mộc bên trái Đông. Thục là chín, đun chín, đồ chín đồng âm với chín, cửu, số 9 thành Kim phương Tây bên phải… Quan niệm trước sau ở đây chỉ đơn thuần dựa theo phương mọc lặn của mặt trời. Thực ra Trời tức Dương mới tại Tây, Tây Thiên.
Thánh Gióng trang 14

Phương Tây Bắc quẻ Kiền Trời, phương đối là Đông Nam quẻ tốn. Bạn đọc xem hình 11A. Trong Hậu Thiên bát quái Mai hoa dịch, 2 quẻ Kiền và đoài Thuộc Kim vì ở Tây Kim. 2 quẻ chấn và tốn thuộc Mộc vì ở Đông Mộc. Bạn đọc xem hình 12A.
Đông Tây tức Âm Dương, Trời Đất. Tây Kim khắc được Đông Mộc, Kim khắc Mộc. Nếu ngược lại Mộc không khắc được Kim. Không như 2 hành Thủy Hỏa, Kim và Mộc phải một mất một còn. Kẻ còn đó là Dương Kim Trời. Điều này được chứng minh ở một cái lễ Nhà chùa, lễ trùng tu gọi “phạt Mộc”. Phạt không cho Mộc lấn lướt quyền cao chức trọng của Dương Kim Trời. Bởi Phật giáo với nền tảng triết học Đông phương coi Mộc là vật nhưng phải giữ 1 cực để dựng Âm Dương Đất với Trời mà thôi.
Trời Đất ở 2 ngôi định vị. Trời đứng ở Tây Bắc, Tây Thiên thì Đất nằm ở Đông Nam, Đông Thổ. Trời Thuộc dương Kiền, Đất Thuộc âm Khôn. Cũng như Mộc với Kim, Đất cũng chỉ là vật hữu dụng không thể so với Trời. Phương Đông Nam thuộc Thổ! Bạn đọc khoan bất bình vì trong Hà đồ, Thổ ứng giữa Trung ương mà đây phương Đông Nam. Có điều gì chưa ổn chăng ?
Một năm có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông. Mùa Xuân thuộc Mộc, Hè thuộc Hỏa, Thu thuộc Kim, Đông thuộc Thủy. Trái đất quay trên một trục nghiêng khoảng 23 độ nên cứ 4 vòng hết 1 chu kỳ lại về ban đầu. 4 vòng với 4 tháng cuối của mỗi mùa đó là tháng 3 Thìn, tháng 6 Mùi, tháng 9 Tuất, tháng chạp Sửu thuộc Thổ, (có sách nói chỉ 18 ngày cuối của 4 tháng đó mới thuộc Thổ)Chúng đều ứng giữa Trung ương. Bạn đọc xem hình 13A.

Vũ trụ bên trái Đông thuộc Thủy hữu hình, biển cả. (bạn đọc không nhầm Thủy vô hình tức “nước trong nguồn” khởi ở Tây Bắc)Bên phải Tây thuộc Kim vô hình. Con người là tiểu vũ trụ. Cũng như vũ trụ Mẹ, bên trái là đường lối của Huyết, Huyết hữu hình thuộc Âm. Bên phải là đường lối của Khí, Khí vô hình thuộc Dương. Nước hữu hình biển cả cũng như Huyết trong con người ta với Mộc cây và Thổ hữu hình nữa, tất cả chỉ là vật hữu dụng. (Bạn đọc xem thang dược Tứ vật bổ Huyết và bài Tứ quân tử thang bổ Khí trong cuốn Hải Thượng lãn ông tâm lĩnh. Bác sỹ Nguyễn Văn Thang giới thiệu. Nhà xuất bản Y học)Chữ cảnh mà vật trên bức hoành trước cổng đền Hùng Vương nguyên ý “vật” hữu dụng.
Thánh Gióng trang 15
Thưa bạn đọc! Như đã nói, do chúng tôi đọc sai luật trắc bằng câu phú “Cao Sơn cảnh hạng” thành “Cao Sơn cảnh hành” mà các nhà Nho “chơi chữ nghịch âm” hành thành Ngọc.
Hà đồ Mai hoa dịch nói: Thổ sinh Kim. Thổ vô hình giữa Trung ương sinh Kim Tây. Tương tự Thổ hữu hình 4 phương phụ đều sinh được Ngọc. Trong 4 phương phụ: Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, phương Đông Nam thấp. Lại là phương đối Tây Bắc quẻ kiền Trời nên triết học lấy điển hình làm Thổ. Đông Thổ đối Tây Thiên, hữư hình đối vô hình, trái đối phải, Ngọc đối Vàng… Ngạn ngữ: “ngôn vi Ngọc, ngậm vi Kim”. Lời nói là Ngọc, im lặng là vàng phải chăng dựa vào triết lý 2 phương Âm Dương, Đông Tây, trái phải…? Chúng tôi phân vân và thật sự hoang mang về âm “hành” trong Cao Sơn cảnh hạng. Tại sao Ngọc mà thừ người trước chữ Ngọc được tra từ âm “hành” trong cuốn Tự điển Hán Việt của cố nhà sư Thiều Chửu.
Ngọc này là Ngọc đeo gồm chữ Ngọc, bên cạnh thêm chữ hành thì giật nẩy người: “Cao Sơn cảnh Ngọc… hành ôhô Nhạc Sơn. Do ngươi đấy thôi. Cố tình đọc sai luật trắc bằng Phú nhưng… cũng thuận ý chúng ta! Đây là cao văn hóa, dụng số 9 Lạc thư chứ Thái gì kia mà gọi Sơn, Cao Sơn. Kim Sơn! Hymalaya…”Chúng tôi nghe như có tiếng từ rất xa những dãy non xứ Thục xuyên. Xen lẫn là tiếng rền như sấm của âm Hùng với 18 thời, ngành(nhánh chi) vương, vượng
triết học: “Cao Sơn cảnh hạng”, “Cao Sơn cảnh Ngọc”! Như trong nắng sớm mưa chiều có một cụ già đầu trời chân dép cỏ. Cụ chống cái gậy hình “một chiếc kim châm với lọ cồn”. Cổ cụ đeo lủng lẳng hai quả hồ lô dược tích hệt danh y Lý Cảo đời Tống. Gương mặt thoáng nụ cười tinh nghịch, cụ vừa đi vừa lẩm bẩm: “Ngọc được gia hành là nhanh rõ Ngọc”, “Ngọc được gia hành là nhanh rõ Ngọc”…
Thánh Gióng trang 16
Trở lại với nhân vật Hỗn Độn. 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì 2 hành Thủy Hỏa quan trọng nhất. Thủy sinh trước ngôi Đế, Hỏa sinh sau ngôi Vương. Chương VII Ứng Đế Vương Nam hoa kinh của Trang Tử bàn triết lý Thủy Hỏa.
Chúa bể Nam là Thúc, chúa bể Bắc là Hốt, chúa khu giữa là Hỗn Độn. Thúc cùng Hốt thường gặp nhau trên đất của Hỗn Độn. Hỗn Độn đối đãi họ rất tử tế. Thúc cùng Hốt mưu trả ân Hỗn Độn nói rằng: Người ta đều có 7 khiếu để trông, nghe, ăn, ngửi. Riêng ông này không có. Ta đục thử xem. Ngày đục 1 khiếu. 7 ngày mà Hỗn Độn chết.
Chúng tôi tóm lược: Hai hành Thủy Hỏa trong 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ đang ở giai đoạn sinh. Thủy Hốt số 1 Bắc thấm nhuận xuống Nam. Hỏa Thúc số 2 Nam hun bốc lên Bắc. 2 hành đồng thời gặp nhau ở giữa Trung ương. Thổ lúc này vẫn ở giai đoạn sinh 5.
Giai đoạn thành của Ngũ hành được bắt đầu bằng câu “Đất lấy số 6 mà làm cho thành Thủy” Kinh dịch. Ở ngôi cao nhất trong 5 hành giai đoạn sinh đơn cực. Trong lúc đó Thủy có đầy đủ sức mạnh Âm Dương sinh thành nên giữa Trung ương lộn xộn. Hiện tượng này Trang Tử gọi bế tắc, Đổng Thiên Vương ví “giặc ân” “manh tâm muốn thôn tính các nước xung quanh”.
Muốn giải quyết tình trạng trên, hành Hỏa phải lập tức vào giai đoạn thành. Thế là “7 khiếu”, “7 ngày”, chương VII Ứng Đế Vương Nam hoa kinh của Trang Tử ra đời tượng cho hành Hỏa phương Nam cũng đầy đủ sức mạnh để “kẻ kia 9 lạng người này nửa cân”.”Gióng gánh cân bằng”. Chim bằng bể Bắc được cái “các” ao Nam đo ngang. Mọi “bế tắc” “manh tâm” giữa Trung ương Thổ hết. “Đục 7 ngày mà Hỗn Độn chết”, chữ “đục” Trang Tử lấy từ thành ngữ “cưa dứt đục thông”. Bạn đọc xem hình 14A. (Kỳ tiếp: Chuyện Đổng Thiên Vương)
Đổng Thiên Vương trang 17
Chuyện Thánh Gióng trong Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh là Đổng Thiên Vương. Chúng tôi nghĩ một nhà Nho nào đó sau khi đọc Thúc Hốt Hỗn Độn của Trang Tử thông lý với Đổng Thiên Vương: Nguyên nhân bế tắc “manh tâm” giữa Trung ương Thổ do hành Hỏa phương Nam chưa có số 7 thành. Bạn đọc xem hình B.

Hai hành Thủy Hỏa Bắc Nam tượng cho 2 chiếc gióng một đôi quang gánh. Số 5 sinh Thổ tượng cho người gánh đứng giữa. Khi 2 đầu gióng bằng nhau thì người gánh không chung chiêng nghiêng ngả. Tác giả tít Thánh Gióng có lẽ người miền Trung nên quang người miền Bắc cụ gọi là gióng, Thánh Gióng.
Thưa bạn đọc! Như đã nói ở trên, chúng tôi cho rằng chuyện Đổng Thiên Vương dựa và phát triển theo chuyện Thúc, Hốt, Hỗn Độn của Trang Tử. (Nam Hoa Kinh viết theo lối “chương”, Lĩnh Nam chích quái viết theo lối “hồi”. “Hồi” ngoài nghĩa “lối” của văn còn là “trở lại”, trở lại vấn đề trước đó)Thông lệ, dựa vào phát kiến người khác để thành của mình thì cốt chuyện sẽ thay đổi, các tình tiết ắt có gia giảm. Bởi vậy phần nhập đề trang 80 hồi 6 chuyện Đổng Thiên Vương chúng tôi sẽ bàn kỹ. Trước khi vào chuyện, mời bạn đọc chú ý 2 vấn đề liên quan:
Đổng Thiên Vương trang 18
2- Các con số:
*Số 1 nguyên là số sinh của hành Thủy, số khởi, nếu cộng với số 2 thành số 3.
*Số 2 nguyên là số sinh của hành Hỏa, số khởi, nếu cộng với số 1 thành số 3.
*Số 3 nguyên là số sinh của hành Mộc gồm số 1 lẻ, cơ, Dương cộng với số 2 chẵn, ngẫu, âm đủ “nhất âm, nhất dương”. Kinh Dịch nói Trời tròn, đường kính bằng 1 thì chu vi bằng 3. Số 3 thực là số Trời tượng là Dương trẻ; Được ứng dụng nhiều trong văn hoá như “tam cấp”, “ba thước Đất”, “tam tộc”, “nhất và nhị”, “đơn và kép”. “Biết 1 mà chưa biết 2” là câu các nhà Nho chê bai nhau, tức mới biết ý thứ nhất chưa biết ý thứ 2 coi như không biết…
*Số 4 nguyên là số sinh của hành Kim gồm 2 con số 2 cộng lại(hai lần âm số). Kinh Dịch nói đất vuông, đường kính bằng 1 thì chu vi bằng 4. Số 4 thực là số Đất.
*Số 5 nguyên số sinh của hành Thổ, là lẻ, cơ, dương, ngôi cao nhất trong 5 số sinh của Ngũ hành. Là số lớn, đại trong 10 số Hà đồ và 9 số Lạc thư. Cùng với số 9 Dương già tạo thành cặp từ “cửu ngũ” dùng cho hào 5 ngôi chí tôn quẻ kép.
*Số 6 nguyên số thành của hành Thủy, tượng là Âm già(Lão âm).
*Số 8 nguyên là số thành của hành Mộc. Là chẵn, ngẫu, âm, lớn nhất trong 5 số chẵn Hà đồ và Lạc thư(số 10 nhỏ hơn số 8 vì diễn số 10: 1+0=1). Số 8 gồm 2 con số 4 đất cộng lại, được gọi là số Thái âm, Âm thông suốt(chữ Bát phường Bát âm từ con số 8 này).

“An Dương Vương dòng dõi Ba Thục”. Số 3 sinh Mộc bên trái Đông. Thục là chín, đun chín đồng âm với âm 9, số thành Kim bên phải Tây: An Dương Vương vốn là con số 9 Hà đồ.
“Thục thua chạy mãi về phương Nam”: Thục, con số 9 thành Kim Hà đồ chuyển về Nam làm con số 9 Sơn Lạc thư. An Dương Vương thua Tần vì “Bọn Tần bèn làm 5 con trâu đá”: số 5 sinh Thổ giữa.
Đổng Thiên Vương trang 19
Vẫn con số 9. Theo tham Thiên của Chu Hy, số 9 bằng 3 lần con số 3 : 3 x 3= 9. Vì là lẻ, cơ, dương và ở ngôi cao nhất trong 10 số Hà đồ và 9 số Lạc thư, tượng Dương già nên nói số 9 là thành đạt. Phương Đông hữu hình, phương Tây vô hình. Gặp con số 9 Hà đồ phương Tây người xưa thường nói thác đi như “Tứ xuyên” không nói Cửu xuyên. “Kim sơn” không nói Cửu sơn. “Thục xuyên”…Tục không nhắc tới người đã mất(tức khuất núi) dựa vào tính triết học vô hình bên phải phương Tây từ con số 9 Hà đồ thành Kim này.
Lại con số 9 thành Kim. Vì phương Đông hữu hình nên ở Lạc thư người ta dùng thẳng như Cửu long, Cửu khiếu, Cửu tộc, Cửu tuyền, (tuyền là tòan vẹn)ngày 9 tháng 9(Trùng Cửu…).
*Cuồi cùng nhưng lại bắt đầu là con số 10 thành hành Thổ. Nói bắt đầu vì diễn số 10: 1+0=1, số khởi.
Đổng Thiên Vương trang 20
Bạn đọc cùng chúng tôi giở trang 80 Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh. Hồi 6 “Các bô lão đến sân rồng cấp báo, Đổng Thiên Vương vây đánh giặc ân”.
Đề chuyện gồm 2 câu, mỗi câu 8 chữ thể![]()
Biền ngẫu dùng cho văn chương thi cử ngày xưa. Thể văn Nôm này rất khó là phải bàn được ý thứ 2. Muốn vậy, thí sinh phải biết xuất xứ đề. Các nhà Nho ở Hà tĩnh truyền kể Nguyễn Du(tác giả Truyện Kiều sau này) thi cử gặp phải thể Biền ngẫu chuyện Cao Biền và Tô Lịch: “Cậy thế đô hộ Cao Biền yểm trấn, sẵn tính anh linh Tô Lịch phá tan” ở cuốn Lĩnh Nam… Nhưng không phải Lĩnh Nam chích quái mà là Lĩnh Nam trích quái lục(?)
Cụ bị liệt điểm. Nghe nói 3 năm sau Nguyễn Du trở lại Kinh kỳ để thi tiếp thì được miễn thí. (1)Giờ, 2 câu đề chuyện Đổng Thiên Vương chúng tôi sẽ bàn trước 2 chữ đó là “cấp” và “các” câu nhất.
Chuyện Thúc Hốt Hỗn Độn Nam Hoa Kinh. Con số 5 sinh của hành Thổ giữa Trung ương Trang Tử “văn hóa” bằng nhân vật Hỗn Độn, Tỳ(lá lách), tạng thứ 5 Ngũ tạng của Người. Chuyện Đổng Thiên Vương cũng vậy.
Chú thích: (1)Chúng tôi sẽ chép lại đáp án của Nguyễn Du cuối phần này.
(2)Thư
đất lầy,bại hoại.
(3)Tuy Tỳ và Vị đều thuộc Thổ nhưng Tỳ thuộc Ngũ tạng. Ngũ tạng thuộc Dương(trước), Trang Tử ví với số 5 sinh Thổ là đúng. Nhưng Vị thuộc Lục phủ, Lục phủ thuộc Âm(sau). Sinh thuộc Dương, thành thuộc Âm. Vị ứng với số 10 thành Thổ, Đổng Thiên Vương ví vậy là gượng ép.
Đổng Thiên Vương trang 21
“Các bô lão đến sân rồng cấp báo”…Các
là cái ao, cái hộc, cái đấu dùng để đo cho bằng. Chữ này trong dân gian vẫn còn như mỗi khi nhận đồ vật người ta thường bảo nhau phải “ao lại”, tức phải đo lại cho bằng đúng. Hành Hỏa phương Nam sinh sau là vật thứ 2 đo bằng hành Thủy sinh trước vật thứ nhất. Bạn đọc xem chương I Tiêu dao du Nam Hoa Kinh. Đây là chương Trang Tử bàn về số 1 sinh của hành Thủy khởi đầu vũ trụ. “Bể Bắc có loài cá, tên nó là côn…hóa mà làm loài chim, tên nó bằng…”
Cá thuộc âm, Thủy thuộc âm nên ví cá(cá còn đọc cả, nghĩa Bắc với hành Thủy chỉ là phương lớn, hành lớn). Chim thuộc dương. (1)Là lẻ, cơ, dương số nên số 1 sinh Thủy tác giả ví chim, Chim bằng.
Trong tự nhiên có loài chim lớn thế không mà dòng 5 trang 29 nói: “…Cánh của nó như đám mây rũ ngang trời. Loài chim ấy bể động thì dời sang bể Nam…”Dòng 9: “đi 6 tháng mới nghỉ”. Bạn đọc xem hình 3B. Hà đồ là vòng quay của 1 năm: Đông sinh Xuân, Xuân sinh Hạ, Hạ sinh trưởng Hạ, trưởng Hạ sinh Thu, Thu sinh Đông.Từ Bắc sang Nam tức từ Đông sang Hè nửa năm, 6 tháng. Chim bằng là số 1 sinh của hành Thủy!
Chú thích:
(1)Dương có tính thượng thăng (âm có tính hạ giáng) mà lên với người Thiên cổ. Gà thuộc bộ điểu, chim. Tục cúng gà trống non chưa đạp mái tức thuần dương (số 1 sinh của hành Thủy thuần dương, chưa phối ngẫu với âm số 6 thành) từ tính triết học này.
Đổng Thiên Vương trang 22
“Chim bằng”. Bằng từ thành ngữ “bằng ngang phải lứa”. Bằng, bình, biền như![]()
Thủy bình, nước bằng phẳng. Nghĩa là hành Thủy tuy sinh trước nhưng cũng chỉ ngang bằng với 4 hành Kim, Mộc, Hỏa, Thổ còn lại. Triết lý này Trang Tử đã khẳng định ở chương II Tề vật luận: 5 vật Kim Tây số 4, Mộc Đông số 3, Thủy Bắc số 1, Hỏa Nam số 2 và Thổ Trung ương số 5 đều bằng nhau. Trong 5 hành Ngũ hành thì 2 hành Thủy Hỏa quan trọng nhất cho sự sinh hóa vạn vật. Chúng như 2 cái “các”, ao đo nhau. Bạn đọc xem dòng 6 trang 29: “…Bể nam là ao Trời…” và dòng 15, 16 trang 30 “…phía Bắc miền hiếm cây…” có bể thẳm tức ao Trời(1)…” Đáp
ý “bằng”, “ao” của Trang Tử, tác giả chuyện Đổng Thiên Vương thuận lý dùng “các” cho đề chuyện “Các bô lão đến sân rồng cấp báo, Đổng Thiên Vương vây đánh bại giặc Ân”. Chúng tôi tiếp tục:
“Hồi 6”… “Thời (thì) Hùng Vương ngành(nhánh, chi) thứ 6”. Đúp số 6. Sơ ý lặp tự chăng? Không phải! Đây là phép xướng đề. Mục đích hướng người đọc vào vấn đề tác phẩm (như số VII, 7 khiếu, 7 ngày chuyện Thúc Hốt, Hỗn Độn của Trang Tử). Bạn đọc xem hình 4B. Trong hình, 6 là số thành hành Thủy. Lặp con số 6 nghĩa là khi hành Thủy phương Bắc bắt đầu vào giai đoạn thành 6 thì hiện tượng gì sẽ xảy ra với 4 hành Kim, Mộc, Hỏa, Thổ vẫn ở giai đoạn sinh. Trực tiếp là Hỏa vì Thủy khắc Hỏa và Thổ vì Thổ khắc Thủy. Chúng ta dễ nhận phép xướng đề ở “Hồi 1 họ Hồng bàng đầu tiên, đầu tiên là số 1. Hồi 2 thời Hùng Vương ngành thứ 2 chuyện Lạc Long Quân diệt Ngư tinh. Hồi 3 thời Hùng Vương ngành thứ 3 chuyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử, đầm(đoài). Hồi 4 thời Hùng Vương ngành thứ tư chuyện trầu cau anh em Tân Lang. Hồi 5 thời Hùng Vương ngành thứ 5 chuyện dưa hấu An Tiêm. Hồi 7 thời Hùng Vương ngành thứ 7 chuyện cáo 9 đuôi. Hồi 8 thời Hùng Vương ngành thứ 8 chuyện Quỷ Xương Cuồng. Hồi 9 thời Hùng Vương ngành thứ 9 chuyện Lang Liêu và bánh trưng…”
Chú thích:
(1)Đọc thì ao là hồ. Chữ hồ 2 tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc Trung quốc từ “các” ao này.
Đổng Thiên Vương trang 23
Chúng tôi tạm dừng 2 chữ “cấp” và “các” đề chuyện Đổng Thiên Vương để cụ thể thêm đôi điều về Hà đồ Kinh dịch.Bạn xem hình 5B. Trên hình là 10 con số sinh và thành của 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Số sinh là số to đậm, số thành là số nhỏ mảnh.
Sinh và thành của Ngũ hành không phải diễn ra cùng 1 lúc mà thứ tự lần lượt nhưng thúc hốt![]()
chớp nhoáng rất nhanh. Giai đoạn sinh thì Thủy Bắc số 1, Hỏa Nam số 2, Mộc Đông số 3, Kim Tây số 4 và cuối giai đoạn sinh là số 5 Thổ giữa Trung ương.
Giai đoạn thành của Ngũ hành cũng bắt đầu từ Thủy. Thủy Bắc số 6, Hỏa Nam số 7, Mộc Đông số 8, Kim Tây số 9 và cuối giai đoạn thành là Thổ số 10 thập toàn. Do 1 sinh 1 thành công dụng nên Hà đồ Kinh dịch gọi gộp số sinh và thành của từng hành lại với nhau. Như về hành Thủy “Trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy, Đất lấy số 6 mà làm cho thành Thủy”. Về hành Hỏa “Đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa, Trời lấy số 7 mà làm cho thành Hỏa”. Hành Mộc “Trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc, Đất lấy số 8 mà làm cho thành Mộc”. Hành Kim “Đất lấy số 4 mà sinh hành Kim, Trời lấy số 9 mà làm cho thành Kim” và hành Thổ “Trời lấy số 5 mà sinh hành Thổ, Đất lấy số 10 mà làm cho thành Thổ”(1).
Chú thích:
(1a)Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành Thủy. Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành Hỏa. Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành Mộc. Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành Kim. Thiên Ngũ sinh Thổ, Địa thập thành Thổ. Đây là cách nói của Thiệu Khang Tiết Mai hoa dịch.
(1b)Số thứ tự của 10 Can(can chi): Giáp số 1, Ất số 2, Bính số 3, Đinh số 4, Mậu số 5, Kỷ số 6, Canh số 7, Tân số 8, Nhâm số 9, Quý số 10. Chúng được xếp theo từng cặp 1 số sinh 1 số thành của Ngũ hành. Do vậy tuổi người đứng ở hàng can Giáp hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can Kỷ(số 1 hợp số 6, Giáp hợp Kỷ). Tuổi người đứng ở hàng can Ất hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can Canh(số 2 hợp số 7, Ất hợp Canh). Tương tự Bính hợp Tân(số 3 và số 8). Đinh hợp Nhâm(số 4 và số 9). Mậu hợp Quý(số 5 và số 10).
Đổng Thiên Vương trang 24
Chu dịch là bộ sách chiêm phệ cổ đại…có quan hệ mật thiết tới triết học, tôn giáo, phong tục dân tộc…”(Thiệu Khang Tiết, Thiệu ung-Mai hoa dịch)
Trong cuốn Kinh dịch đạo Người quân tử, tác giả Nguyễn Hiến Lê nói rằng Tây như người Đức có Jung “là 1 trong những thủy tổ Phân tâm học…chuyên nghiên cứu tiềm thức con người”. (1)Jung bắt chước Thiệu ung bói việc trên 64 quẻ kép.
Chú thích:(1)Phân tâm mà là tiềm thức ư? Jung (tính từ trẻ) với phân tâm chúng tôi không biết. Nhưng…Frerd là bác sỹ thần kinh Đức với Phân tâm, môn khoa học về “Tâm không chủ định”. Chúng tôi biết ông còn sang cả phương Đông với Ngũ hành,
1 học thuyết quyết định cho cái tên “Văn minh sông Hằng”. Bạn đọc xem hình
. Đây là biểu trưng nước Đức Deutschland những năm 1930 và cũng là hình trên ngực Phật khi giáng thế. Nhà chùa nói rằng đó là chữ Vạn. Theo cố Nhà sư Thiều Chửu thì tiếng Phạn và Hán tự không có chữ nào như vậy cả. Kia là hình tướng chứ không phải chữ. Là hình tướng, chúng tôi nói hình tướng Ngũ hành. Gốc hình này là 1 dấu cộng giống chữ Hán + thập tượng cho 4 phương chính Đông, Tây, Nam, Bắc. 4 đầu dấu cộng đính với 4 vạch ngắn như 4 cái đuôi để diễn đạt hình khi quay. Nếu quay theo chiều thuận thì cái đuôi đi sau. Người cổ Ấn độ giải thích thế giới bằng thuyết Ngũ hành của họ cho rằng: Vũ trụ được sinh ra bởi 5 thứ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bạn đọc xem 2 hình 6B. “Đạo Trời quay từ trái sang phải”. Hình 6Ba là tướng Ngũ hành biểu trưng cho Trời, Phật, những khái niệm gọi Đấng tối cao. Như đã nói, Frerd rất tâm đồng với Ngũ hành. Nhưng đâu biết đã mớm văn cho Hittler sau này dựng tượng Đế chế Đức một thời mưa gió, ông ta muốn là Trời Phật của nhân loại.(Ingrid Rady, Der Operationssaal war schon vorbereitet, Berlin Mai 1972)
Đổng Thiên Vương trang 25
Nhưng tác giả Lê Chí Thiệp trong Kinh dịch nguyên thủy Nhà in Khai trí Sài gòn 1973 lại nói: Nguyên thủy của Kinh dịch gồm Âm Dương, Ngũ hành, (Hà đồ, Lạc thư)Can chi, Bát quái mới là phần dùng để xem bói. Tác giả Nguyễn Hữu Lương trong Kinh dịch với Vũ trụ quan Đông phương Nha tuyên úy Phật giáo ấn hành 1971 ý cũng tương tự.(Theo Lê Chí Thiệp: Trùng quái tức 64 quẻ kép do người Việt thường vẽ ra không biết để làm gì.Người đời sau cài đặt các tư tưởng Nhân sinh quan vào các vạch). Nói Kinh dịch Nguyên thủy là nói tới Ngũ hành tức Hà đồ, Lạc thư.
Học thuyết Ngũ hành quan trọng nhất trong 1 tập hợp có hệ thống Triết học Đông phương. Như nói Ngũ hành đã có Âm Dương, nói Can Chi đã có Ngũ hành, nói Vận khí đã có Can Chi…Thuyết Ngũ hành bị người phái thực nghiệm phản đối, họ cho là hoang tưởng. Nhưng năm, tháng, ngày giờ với Can Chi từng người đã chiêm nghiệm và, thực tế rất hiển nhiên: Đông y vận dụng thuyết Ngũ hành, Vận khí trị bệnh đạt kết quả mỹ mãn. (1)Bạn đọc xem hình 7B.
“Kinh dịch là 1 kỳ thư…Khó xem do lời văn ngớ ngẩn đột ngột, chủng chẳng rã rời như lời bọn đồng cốt…Đôi chỗ chưa đúng văn pháp…Tinh thần Kinh dịch…nói con Rồng chưa chắc đã con Rồng…”(Dịch giả Ngô Tất Tố_Kịch dịch)
Chú thích: (1)Ngũ tạng của con người thì Gan thuộc Mộc, Phổi thuộc Kim, Thận thuộc Thủy, Tỳ(lá lách thuộc Thổ). Bệnh Gan hư ngoài trị chứng, Đông y còn phải bổ Thận Thủy vì Thận Thủy là mẹ của Gan Mộc(Thủy sinh Mộc). Ngoài ra tùy theo Vận của từng năm, Khí của từng 6 tháng đầu hoặc cuối năm mà dùng phép nhuận, thanh Phế Phổi vì Phổi Kim khắc Gan Mộc(Kim khắc Mộc). Tương tự Tỳ Vị hư hàn gây chứng ỉa chảy phải bổ Tim Hỏa vì Tim Hỏa là mẹ của Tỳ Vị Thổ(Hỏa sinh Thổ). Ngoài ra phải dùng phép bình Gan vì Gan Mộc khắc Tỳ Vị Thổ(Mộc khắc Thổ)…
Đổng Thiên Vương trang 26
Là thư, văn phải tự, chữ.Hà đồ và Lạc thư là Học thuyết Ngũ hành. Nhưng tại sao Kinh dịch không 5 vật cho dễ hiểu mà phải “chủng chẳng” Bát tự “sông Hà hiện đồ, sông Lạc hiện thư”. Khiến cho kẻ văn bất đắc dĩ như chúng tôi nhiều khi phải “rã rời” buông bút: “sông Hà là sông Hoàng hà…”. “Sông Lạc là 1 nhánh của sông Hoàng hà…” Tinh thần Kinh dịch. Nói long chưa chắc đã Rồng phải chăng nói Hà chắc gì đã sông. Vậy sông Hà ở đây là gì? Chúng tôi tự hỏi vì 2 chữ sông và Hà dường như 1 nghĩa “giang”. Nếu thế là sai văn pháp.
Trên kia, trên cả Tây bắc Trung hoa, bên kia ngọn Hymalaya là Ấn độ(1). Quốc gia của nền Văn minh tối cổ này có 1 con sông tên chữ
Hằng nghĩa là lâu bền mãi mãi. Chúng tôi cho rằng Hà và Lạc trong 8 chữ sông Hà hiện đồ sông Lạc hiện thư không phải “thực” mà là “Văn”, sông Văn. Chúng có quan hệ tinh thần với xứ Thổ dân Indi’a trên kia.
Người xưa lấy sông núi để chia các vùng đất gọi là
châu. Như Châu ô, Châu lý(2). Sông Hán, sông Nguyên(3). Mỵ châu(4), Phong châu(5)…“Sông Hà hiện đồ, sông Lạc hiện thư”. Sông lạc. Lạc là vui thích, Âm nhạc tượng cho phương Nam. Sông Lạc là vùng đất người phương Nam. Biết Nam, vế chính sẽ là Bắc. Sông Hà. Hà
là sông Thiên hà trên Trời. Làm gì có Trời với cả sông trên ấy. Phải chăng Hinduganga mà người Indi’a(6) gọi sông Hằng?
Chú thích:
(1)Âm Ấn độ được phiên từ âm tiết Indo trong các chữ hệ Latinh. Như Indo’European, tiếng Anh là loại ngôn ngữ kết hợp giữa tiếng Ấn và tiếng Âu. Khởi nguyên chữ Hán là tiếng Phạn. Indo chúng tôi dịch âm là Ấn độ. Ấn: in, con dấu, khắc chữ…Độ: Thổ độ, đất, đất có người sinh sống, Thổ dân, giống Thổ, 1 âm(Nhạc) gọi là Đô…Indo ý Ấn độ![]()
như 1 trong những cái nôi của Nhân loại.
(2)Ô là màu đen, màu đen thuộc Thủy. Thủy sinh tại Bắc. Châu ô là vùng đất của người phương Bắc. Lý từ chữ Lý dép, quẻ Thiên trạch lý trùng quái phương Đông Nam. Châu Lý là vùng đất của người phương Nam.
(3)Hán
là chỗ sườn núi có thể làm nhà ở được. Hán
còn là 1 giống ở cao nguyên Tây tạng trước thời Hoàng đế. Sông Hán là vùng đất của người Hán. Nguyên
là vốn như nguyên bản. Nguyên còn là bắt đầu, xuất phát, to lớn. Sông Nguyên ý vùng đất của Thổ
Độ.
(4)Mỵ Châu. Mỵ
là ngủ say. Châu là vùng đất.Châu
còn là Ngọc châu Ngọc trai. Ngọc tượng cho phương Đông(Vàng tượng cho phương Tây). Mỵ Châu là vùng Đất phương Nam còn ngủ say.
(5)Hoàng Đế nội kinh là sách gối đầu của Nhà y. Giải thích Gan, 1 trong 5 Tạng con người, sách viết: Đông phương sinh Phong, Phong sinh Mộc, Mộc sinh toan, toan sinh Can. Nghĩa là phương Đông sinh ra gió, gió sinh ra cây, cây sinh ra vị chua, vị chua sinh ra Gan. Phong Châu là vùng đất của gió. Quẻ Tốn gió Hậu thiên bát quái xếp Đông Nam từ tính triết học này).
(6)Các chữ hệ Latinh như Indi’a, Indi’an, Indi’genous, Indi’genducspeopl, Indi’aner… gốc từ là Indi. In: ấn, con dấu, khắc chữ. Đi: hành,![]()
in ấn xong phát hành ra gọi là Indi.
Đổng Thiên Vương trang 27
Hindu’ganga là 1 từ thuộc hệ Ngôn ngữ Ấn Âu gồm 2 thành tố. Tiền Hindu tiếng Ấn, hậu ganga tiếng Anh. Gan’ga. Gan gốc từ của gander con ngỗng đực tiếng Anh, gans tiếng Đức. Để không nhầm với duck con vịt(1) ngụp lặn tác giả Hindu cho thêm ga, ganga. Tiếng Anh ga là 1 thứ Kim loại. Hành Kim Ngũ hành sinh thành tại Tây, ganga là con ngỗng Kim Tây.
Tiếng Phạn có âm viết được thành chữ như
Văn. Nhưng rất nhiều âm dùng để nghe nói. Hin’du gồm 2 âm Hin và du. Hin chúng tôi dịch âm là hạn, đại hạn. Ấn độ nắng nhiều nên Hin hạn. Nắng tức Hỏa, Hỏa nhẹ ở trên(Thủy nặng ở dưới). Hỏa tức Khí, Khí nhẹ ở trên(khí nặng ở dưới). Nắng nóng đi với táo khô, khô ở trên(ướt ở dưới)…Một xứ sở ở trên cao nắng lửa táo Khí(2) như vậy nên là hạn
Hin, Hin’du.
Nghe nói Hán Vũ Đế(3) người Tàu có cái thú chơi đu treo. Chúng tôi xin mượn 1 chữ trong tên thường gọi vị Đế này để bàn tiếp 2 chữ “sông Hà” Kinh dịch.
Ấn độ phương cao gần mặt trời nên Hin hạn. Chữ Thiên nghìn treo dưới chữ nhật, Mặt trời. Người Trung Hoa nói họ là người Hán. Bạn đọc nhìn lại chữ
sườn núi có thể làm nhà ở được. Hán này gồm chữ nhất, khởi ở trên và chữ phiệt phây tượng cho 1 nửa trái Đông. Nhà ở tức người sinh sống. Có 1 giống sau này gọi Hán từ bên kia men theo Hymalaya đến lập sinh ở cao nguyên Tây tạng cùng tiếng Phạn tối cổ.
Chủng người nào cũng đều có tiếng nói(Ngôn) và chữ viết(Ngữ) riêng. Nếu không, họ là kẻ từ nơi khác đến. Hán tự dựa vào âm, dựng lại chữ từ tiếng Phạn Ấn độ. Tiếng Trung ngày nay là thể giản tiện từ chữ Hán. “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Mất chữ viết còn tiếng nói. Người Trung Hoa không có ngôn ngữ riêng. Phải chăng tổ tiên của họ là Indo Ấn Độ rồi Indi ấn hành mà thành cái tên như nửa Ấn nửa Âu Indo China?
Chú thích:
(1)“Tả dực hữu dực” là 2 cánh chim trái, phải. Đều ở bộ điểu, vịt biết ngụp lặn thuộc Âm. Vụ Tiên phi tần của Để Minh hồi 1 Lĩnh Nam chích quái là
con vịt trời bể Nam Đông thổ Tả dực.
(2)Táo
là 1 trong 6 khí(phong, hàn, thử, thấp, táo, nhiệt) lưu hành trong năm. Khí táo ứng mùa thu bên phải Tây gọi là dương minh táo Kim(khí phong ứng mùa xuân bên trái Đông gọi là quyết âm phong Mộc). Hoàng đế nội kinh giải thích phổi Ngũ tạng của con người như sau: “Tây phương sinh táo, táo sinh Kim, Kim sinh tân, tân sinh phế”. Nghĩa là phương Tây sinh khí khô, khí khô sinh Kim, Kim sinh vị cay(tân là cay), vị cay sinh phổi.
(3)Tức Hán Cao tổ diệt nhà Tần(còn gọi là Tiền Hán hay Tây Hán). Người đời sau tôn ông là Hán Vũ Đế.
Đổng Thiên Vương trang 28
Hin là hạn, đại hạn.Hạn thường đi với hán thành cặp “hạn hán”. Trung hoa phương Mặt trời mọc: Hán
khô, phơi khô chữ nhật vế trước; Vế sau gồm 3 chữ: Thảo(mộc) tượng cho Đông ở trên, Thiên(trời) tượng cho Nam ở dưới và Trung tượng cho Đông Nam ở giữa(1).
Phương Tây cao, phương Đông Nam thấp. Đông Nam thuộc Thổ hướng biển Thủy hữu hình, ứng tháng 3 Thìn, thời tiết bắt đầu nóng nhưng ẩm ướt(2). Do vậy hán của Trung hoa tuy khô nhưng phải phơi(vì ẩm ướt nên phải phơi khô). Bạn đọc xem 2 chữ![]()
(3). Vế sau 2 chữ trên đều tượng cho Đông Nam(chúng chỉ khác nhau ở bộ: “Giống Hán” bộ Thủy, “hán phơi khô” bộ Nhật). Hạn hán là 1 cặp từ chính hoá(4). Cùng âm han nên chúng rất dễ chuyển giao vị nghĩa(5). Tương tự gan’ga tít sông Hằng, tác giả cho thêm du vào Hin. Hindu là: Du chủ của Hin. Trò đánh đu của Hán Cao Tổ là thú đố chữ của nhà Nho. Bạn đọc xem hình 8B. Hán khô, phơi khô như bám lên Du Hin. Đều ở bộ cách: Da lông con thú bỏ đi, Cái đu![]()
đọc Thu Thiên. Cây đu![]()
cũng đọc Thu Thiên. Thu Thiên, Thiên Thu. Người đời sau căn vào âm Thu, Thiên chế ra chữ![]()
nghìn năm dùng chúc thọ Vua.
Chú thích:
(1)Trời
(thiên) chữ nhất ở trên, chữ đại ở dưới. Đạo trời quay từ trái sang phải. Đông đến trước Nam nên dù Thiên(trời) cũng phải dưới thảo(Mộc). Trung là giữa Đông và Nam.
(2)Lễ cầu mát nhà Trịnh ngày xưa vào đầu tháng 3 âm lịch.
(3)Mầm giống đọc nha như![]()
nha đậu, mầm của đậu. Đậu là đỗ, đỗ là độ, độ đọc Thổ. Giống Hán là cái mầm của Thổ
Độ. Tiếng Phạn gọi Trung hoa là China![]()
. Chi là nhánh thứ. Na đọc là chăng, trang như
trang trại.China là 1 ấp, trang trại thuộc Ấn độ.
(4)Chính hóa là 2 mặt Âm Dương. Hóa là biến đổi, biến hóa để nên công dụng. Bắc chính thì phải có Nam hóa. Như chi Tý Bắc chính chi Ngọ Nam hóa. Tây Bắc chính thì Đông Nam hóa, chi Tuất Bắc chính chi Thìn Nam hóa…
(5)Sang Nam, hậu duệ của Hán Vũ Đế “tự cao” là người Hin Ấn độ. 1 câu tục ngữ vẫn còn lưu trong trí người già: “Khô như treo ghe”. Ghe là cái thuyền và cũng như 1 cái vật gì ở dưới. Khô như treo tức cái ở dưới đó được treo lên mà trên nó không có 1 cái gì đè lên. Hin hạn Ấn độ khô nhưng không ướt. Hán Trung hoa tuy khô nhưng lại ướt. “Khô như treo ghe”. Hán của các Ngài chỉ là ghe chài ngoài Nam hải, phương Đông Thổ; Vị 1 cái đảo có liền 2 vần ôn của nước Nam mà thôi. Côn lôn!
Đổng Thiên Vương trang 29
Đến đây bạn đọc đã đoán được ý đồ người dịch Hinduganga. Thiên Thu là lời chúc thọ Vua về cõi ngàn năm. Tiếng Phạn không có chữ vạn. Do nạn xưng Đế tràn lan, đến thời Chu, các nhà Nho căn vào âm wãn của hình tướng
trên ngực Phật chế ra chữ
vạn. Wãn này ngoài nghĩa 10 ngàn còn là muôn kể. “Vạn tuế”, “Muôn tuế” là lời chúc thọ dành cho các vị Hoàng đế.
Hạn hán. Hán là nhánh Đông đầu lòng(1) của hạn, Hin Ấn độ. Từ Tây Bắc Trung hoa giống Hán phát triển xuống Đông Nam, sang tả hữu lập những quốc gia riêng biệt. Trước khi chuyển sang Tây: Ai cập, Hy lạp…chúng tôi mách trước với bạn đọc: Quốc gia Miến điện Myama là 1 cành nhỏ của giống Hán. Bạn đọc xem 2 chữ Myama và Mycenae(thời kỳ tối tăm của lịch sử Hy lạp). My là mi E, nốt thứ III 7 nốt nhạc Dô, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si. Độ
Thổ nốt I, Hán nốt II, Mi của Myama và Mycenae là nốt III. Ma![]()
đại ma gồm chữ lâm rừng bên phải Tây đặt dưới chữ nghiễm. Đại ma ý Miến điện Myama là 1 quốc gia lớn sinh ra dưới mái nhà; Chỗ
Hán, sườn núi có thể làm nhà ở được. Myama và Mycenae là 2 vùng đất số thứ 3 từ tư tưởng Lão tử: “Đạo sinh 1, 1 sinh 2, 2 sinh 3, 3 sinh tất cả”(2). Số 3 là tổng của 1 và 2, nó sẽ bắt đầu cho các số còn lại 10 con số Ngũ hành.
Thưa bạn đọc! Chúng tôi đang bàn về “sông Hà” Kinh dịch.
Lưỡng Hà là 2 con sông trên “Trời”. Khu vực Lưỡng Hà ngày nay gồm nhiều quốc gia trong đó có Ấn độ và Ai cập là 2 cái nôi Văn minh nhân loại. Sông Hằng có trước sông Nin hay ngược lại? Cả 2 có quan hệ giống cành gì như Indo và China? Đây là vấn đề Triết học còn quan tâm. Người ta đưa ra nhiều thuyết như Nhị nguyên, Nhất nguyên… Nhị nguyên cho rằng bản thể vũ trụ khởi phát từ 2 điểm khác nhau. Còn Nhất nguyên thì luận sự sống trái đất bắt đầu từ duy nhất 1 tâm điểm. Đại biểu thuyết này là
tagore(571-447 TCN).
Pitago là nhà Triết học cổ đại Hy lạp thuộc phái Duy tâm. Bạn đọc nhìn chữ cái đầu trong tên Ông. Tiếng Hy lạp được phiên từ tiếng tượng hình Phoen’ici = Phạn(3). Pi
là chữ nhân như người què chân đội đầu chữ – nhất. Pitago cho rằng bản thể vũ trụ khởi phát từ duy nhất 1 tâm điểm Indo, Ấn độ. Vì thế gọi ông là Duy tâm. Coi trọng tâm điểm nhưng Pitago liên kết Đông Tây để giải thích thế giới. Cũng do vậy gọi ông là liên minh. Trường phái liên minh
tagore.
Chú thích:
(1)Nói đầu lòng vì Hạn Hán giống nhau ở hạn. Con đầu lòng bao giờ cũng mang gen cha mẹ nhiều hơn.
(2)Lão tử người Ai cập?
(3)Phạn
là cơm, ăn cơm, cho muông ăn, ngậm. Ăn cơm tức cơm bữa, muông tức sự sống vẫn còn hoang dã; Ngậm, ngậm miệng, chứa. Phạn là ngôn ngữ tối cổ. Dùng thường ngày như cơm bữa mà ngậm, chứa ý tứ sâu xa.
Đổng Thiên Vương trang 30
Bạn đọc xem ảnh chụp chân dung Pitago, bức tượng thuộc phái Siêu thực.
Một nửa phần trên Pitago đặt giữa 1 tấm
bảng yết thị (thuộc bộ phiến có 1 nghĩa là danh thiếp). Giữa tấm yết thị là chân đế ôm, đỡ 1 ý Văn kiểu phương Đông. “Trời tròn Đất vuông”. Cái khăn vấn đầu màu trắng khởi từ trái sang phải theo chiều Ngũ hành tương sinh kiểu Ấn độ(người Hy lạp mặc áo choàng và đội mũ).
Trong con Người đầu thuộc Dương Trời, thân thuộc Âm Thổ nên thân Pitago vuông đặt trên 1 cái đế cũng vuông tượng cho Đất. Chú ý nhất là râu. Bộ râu quặp kiểu “nhất vợ nhì giời” và cả tóc mai ôm lấy râu cằm. Râu cằm là 1 chòm nhưng đây tẽ làm đôi. Hình hài như 1 vật gì đó nửa lạ nửa quen. Tác giả ý gì vậy? Chúng tôi xin 100 lạy. Mong hương hồn Pitago tha thứ rằng hậu sinh chỉ bàn
tượng, không dám bàn con Người thực thể của ông.
50 năm tiếp xúc với văn hóa Ấn độ, tư tưởng Pitago bị ảnh hưởng rất lớn. Nhà Triết học thấy các sách như Vệ đà, Sâm lâm thư, Áo nghĩa thư…đều là sách bàn lẽ Trời Đất. Nhưng khác người Hy lạp, những tư tưởng Triết học Âm Dương, Ngũ hành, Can chi, Vận khí, Bát quái và cả Trùng quái; Chúng đều được người bản địa diễn thành Nhạc, Văn, Hội họa.
Triết học Ấn độ coi Âm, Sắc là 2 trong nhiều mảng cấu thành. Âm
tiếng. Tiếng phát ra có điệu, trong đục, cao thấp; Tiếng phát ra thành Văn Ngôn cả 2 đều là Nhạc Văn. Sắc
màu. Như Ngũ sắc(xích hắc thanh hoàng bạch). Sắc đẹp, bóng dáng, cảnh sắc, sắc tướng…Tất cả đều là Sắc. Ảnh hưởng hoàn toàn Ấn độ nên dù ở Hy lạp, Pitago còn hoạt động cả Nhạc Họa. Ngoài 2 lĩnh vực chung Triết học, Toán học, trường phái này còn có đóng góp to lớn cho nền Âm nhạc và Hội họa nhân loại. Đặc biệt là Hội họa Siêu thực như bức chân dung nhà lãnh đạo Pita.
Đổng thiên vương trang 31
Chúng tôi tiếp tục về râu ria của Pita(1). Ria mép ông chia 2, nửa non vểnh lên nửa già quặp xuống. Bạn đọc nhìn râu và miệng, chúng hoàn toàn là phần dưới con Người: Môi là đai lưng. Râu cằm đôi nửa là 2 ống quần giạng ra, giữa là cái lỗ, như má phải còn dính bết 2 sợi “tóc”. Nửa non ria mép Pita vểnh lên tượng cho tư tưởng Hy lạp. Nửa già quặp xuống tượng cho tư tưởng Ấn độ ôm lấy hình vật người đàn bà.
Râu ria Pita chỉ gây chú ý, không quyết định. Cái mũi của ông thoáng nhìn bỏ qua nhưng quyết định chủ đề bức tượng.


Theo sắc tướng Ấn độ, từng bộ phận trên mặt Người đều ứng với Ngũ hành. Như tai phải thuộc Kim, tai trái thuộc Mộc, cằm thuộc Thủy, trán thuộc Hỏa và mũi
tỵ thuộc
Thổ. Mũi cao thẳng, sắc tím tía treo như buồng mật con bò là tướng mũi cự
phú. Loại mũi này dân gian Việt nam gọi mũi Hin.
Tỵ là núm cái ấm trà, cái núm con dấu in ấn. Bạn đọc xem 5 chóp mũ, đầu con cá(trái), đầu ngọn đèn đỏ(phải) của bức họa Bà la môn. Chúng được cách điệu từ 2 cái núm nói trên.
Không chỉ cái mũi, núm ấm trà, núm con dấu in ấn; Tỵ còn là trước tiên như Ông thủy tổ tục gọi![]()
Tỵ tổ.
Chú thích:
(1)Tiếng Anh Pit-a‘-pat là âm(tiếng). Âm tiếng là 1 thành tố Âm nhạc. Tiếng Phoen’ici = Phạn là tiếng tượng hình(sắc). Hình sắc là 1 thành tố Hội họa.
‘tagore, hình tiết
và âm tiết Pita diễn đạt tư tưởng Nhạc Họa của ông.

Đổng thiên vương trang 32
Chúng tôi tạm thời dừng 2 cái mũi Ấn độ và Hy lạp chuyển sang lĩnh vực Âm nhạc và Toán học của Pitago.
Nghiên cứu Âm nhạc, Pitago dùng âm Do Ngũ cung thêm vào 2 nốt phụ cho đủ thất cung 7 âm. Trên cơ sở Dur tự nhiên, Moll tự nhiên phương Tây, ông thay đổi 1 hai nốt thành 7 điệu thức cổ Hy Lạp: Dorien, Ionen, Hypophriden…(1)Bạn đọc xem 5 nốt của âm Độ
Thổ:(2)
| Âm do Ấn độ | 1 | 2 | 3 | (?) | 4 | 5 | (?) |
| đô | rê | mi | xon | la |
| và Dorien Hy lạp | I | II | III | IV | V | VI | VII |
| Do | Re | Mi | Fa | Sol | La | Si |
Ta thấy Độ
Thổ có 5 âm đô, rê, mi, xon, la(không có Fa, Si). Nhưng Do Hy lạp có 7 âm (thêm 2 Fa, Si). Ngành Nhạc gọi điệu thức Do’ri’an, thuộc về âm Do và âm Re. C Dur đô trưởng ngày nay nhân loại đang dùng chính nó.
Là Triết gia kiêm toán, Pitago dùng 4 trong 10 con số Ngũ hành để giải thích hình học, ông cho:
* Số 1 là tâm, kẻ 1 đường thẳng đến điểm 2. Tuy ngẫu, chẵn, âm số nhưng số 2 là số sinh của hành Hỏa. Hỏa thuộc dương(Thủy thuộc âm), số 2 là đường.
* Số 2 là đường, kẻ tiếp 1 đường thẳng đến điểm 3. Số 3 là diện tích.
* Số 3 là diện tích. Là số sinh của hành Mộc gồm số 1 cộng số 2. “Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo”. 1 số dương và 1 số âm, số 3 được coi là số Trời. “Trời tròn, đường kính bằng 1 chu vi bằng 3”. Số Pi ≥ 3,14 dùng để tính diện tích đường tròn của
tagore.(
là chữ cái đầu trong tên ông).
* Số 4 là thể tích. Từ 3 điểm của 3 góc tam giác tâm, 2,3 Pitago nối chúng với điểm thứ tư. Bạn đọc xem hình dưới. Thể tích là dạng chứa đựng, Pitago lấy nó tượng cho đất.

Chú thích:
(1)Điệu thức dân ca Nam bộ Việt nam: Moll(thứ) tự nhiên nhưng nốt VI được tăng lên ½ cung là Ionen:
| DMoll Nam bộ: | I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII |
| Re | Mi | Fa | Sol | La | Si | Do | Re |
Điệu thức các nước khối Ả rập: Moll(thứ) tự nhiên nhưng nốt II hạ xuống ½ cung là Hypophriden:
| EMoll Ả rập: | I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII |
| Mi | Fa | Sol | La | Si | Do | Re | Mi |
2)Còn gọi là cung của Ngũ âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Mỗi âm đều ứng với 5 trong 10 con số 1, 2, 3, 4, 5 của Ngũ hành. Như âm Cung thuộc
Thổ số 1, âm Thương thuộc Kim số 2, Giốc thuộc Mộc số 3, Chủy thuộc Hỏa số 4 và Vũ thuộc Thủy số 5. Nhạc Ấn độ ghi bằng số gọi là Nhạc số.
Đổng thiên vương trang 33
Thưa bạn đọc! Chúng tôi vẫn đang bàn “Sông Hà” Kinh dịch.
Quốc ngữ Việt Nam thuộc hệ La tinh được người Pháp phiên âm từ chữ Nôm. Chữ Nôm là thể “ nôm na” trên nền tảng chữ Hán. Chữ Hán lại dựa và phát triển từ tiếng Phạn.
Quốc ngữ Pháp như thừa kế tiếng Ai cập. Tiếng Ai cập cũng phiên từ 1 loại tiếng tượng hình Phoen’ix = Phạn(1). Chúng tôi nghĩ phải chăng “qui về 1 mối” Phạn mà với Việt nam, người Pháp dịch được nhiều chữ như Cửu long, Côn lôn cả Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp(2). Và với Ai cập, họ cũng dịch nhiều ký tự, giải nhiều loại mã hoá như bức chân dung vua Ai cập bên. Chúng tôi chưa có ý định bàn sâu bức Họa này mà chỉ mách trước với bạn đọc 2 chữ tiếng Phạn trên đường viền áo vị vua. Chữ dưới cùng
vương gồm chữ Độ
Thổ đội trên đầu chữ — nhất. Chữ nhất là 1 gạch ngang được cách điệu thành 1 cái lông chim có cái đầu bằng(3). Tiếng Phạn và chữ Hán vương là hầu, thần
thứ. Tiếp lên trên vương là chữ
hựu. Hựu đọc “lại” nghĩa đi rồi lại như “ nói đi nói lại”, “bàn đi bàn lại”(4)…
Chú thích:
(1)Bạn đọc nhìn lại vế sau chữ
phạn gồm chữ
hựu dưới chữ
hán. Tiếng Phạn không có chữ phạn. Phạn này người Hán Trung dựng lại từ âm phạn Tiếng Phạn.
(2)Tuy dễ làm nhưng thơ Lục bát cũng có vần lối(kiểu). Ví dụ 1 câu lục:“ Lên dần dây vũ dây văn”. Như đã nói Nhạc Ấn độ có 5 âm: Cung, (Độ
Thổ)Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Âm vũ thuộc Thuỷ, Thuỷ sinh thành tại Bắc. Biết vế chính Bắc sẽ suy ra vế hoá Nam. Âm chủy thuộc Hoả, Hoả sinh thành tại Nam. Dây vũ dây văn. Lẽ ra phải nói dây vũ dây chuỷ. Văn chương người xưa cho biết rõ vế thứ nhất. Vế thứ hai người đọc suy luận. Tượng nhân vật quẻ Ly Hậu thiên bát quái Mai hoa dịch Thiệu Khang Tiết nói: “ Người phương Nam kiến lợi văn chương tư tâm sách vở”. Không có 1 Nhạc khí nào có dây vũ và văn cả. Lên dần dây vũ dây văn là so đọ Bắc Nam, Thuỷ Hoả tức cao thấp cho dây đàn.
(3)Ai cập phương Tây bắc(chính) Trung hoa vị Đông nam(hóa). Chim bằng(cá côn) trong Tiêu dao du Nam hoa kinh của Trang Tử diễn lại “cái lông chim” này.
(4)Do hiện vật nứt, giữa 2 chữ vương và hựu chúng tôi không xác định được ký hay tự.
Đổng thiên vương trang 34
Trước khi vào 2 chữ vương và hựu trên đường viền áo(1) chân dung vua Ai cậpII(2), bạn đọc chú ý con số II. II là số lớn La mã(số Ấn độ là số nhỏ). Bạn đọc nhìn tiếp vào trán vị vua. Hình
, nửa bên phải là bộ râu Pitago. Chúng tôi xác định hiện vật chế tác sau khi có 2 quốc gia![]()
(3) Hy lạp và![]()
La mã.
Vương là hầu, thần thứ. Chữ Nôm ta nếu đọc vua là con người bằng da bằng thịt. Nhưng đọc vương chưa chắc. Do vương nhiều nghĩa trong đó có 1 nghĩa tước(chức) vương. Như thiên vương trong Đổng Thiên Vương(Thánh Gióng) không thể gọi vua Trời. Bởi Trời
Đế ngôi chí tôn chả lẽ bằng vua. Rồi vương trong vương quốc Ai cập, vương quốc Hy lạp không thể dịch “vua nước” hoặc “nước vua”…Cái gọi vua Ai cập là tước vương, thần thứ. Bạn đọc xem ảnh thần mặt trời Ai cập còn có tên thần Ra. Ra, Re là nốt thứ II trong 7 nốt nhạc Dorian Hy lạp Do, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si. Bạn đọc xem thêm 2 chữ![]()
Ai cập. Cập thuộc bộ hựu nghĩa kịp đến. Từ sau đến như hết anh lại đến em. Ai cập quốc gia anh hay em? Nếu em là thứ mấy? Ai cập Ai đọc Thương. Âm thứ 2 trong 5 âm Cung, (Độ
Thổ)Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Cái gọi vua Ai cập là tước vương, mặt trời thứ II(4).
Ông Guillaume cho rằng hình nhân vua Ai cập II không phải đàn ông cũng chẳng phải đàn bà. Đàn ông lại mặc váy? Đàn bà sao không có ngực(5)? Bạn đọc theo dõi chúng tôi dịch chữ Pharaon II.
Chú thích:
(1)Đường viền áo
đọc đam. Đam trong danh gọi Lão Đam tức Lão Tử, Lý Nhĩ là chữ đam này. Lão Tử người Ai cập?
(2)Pharaon II người Pháp dịch là Vua Ai cập II, do tiếng Pháp có 1 chữ Pha’ra’on cũng gồm 3 âm tiết.
(3)Từ 4 chữ Hy
, Mã
, Lạp
, Sơn
. Sơn là núi. Hy là sắc mặt trời. Lạp là 1 thứ kim loại pha giữa chì và thiếc dùng hàn đồ. Mã là cán cân Thiên bình. Hy Mã Lạp Sơn là ngọn núi xứ mặt trời(Hy) Hin hạn Ấn độ đứng giữa như cán cân(mã) thiên bình. Ngọn núi đó là chỗ tiếp giáp(hàn nối) 2 cực Đông Tây, (lạp) 2 đầu là 2 đĩa cân Hy lạp và Malaysia(?)
(4)Zeus là thần mặt trời thứ III tượng cho vùng đất Hy lạp. Bạn đọc có thể thấy thêm con số III sinh hành Mộc trong tên Con ngựa(gỗ) thành Troy(Pháp trois, Anh tri).
(5)Fridrich Günter, einponisch Maler, Berlin August/1970.
Đổng Thiên Vương trang 35
Trước hết chúng tôi xác định phương hướng. “Đấng Thánh nhân quay mặt về phương Nam mà trị vì thiên hạ”(1). Vị vua Ai cập nhìn về phương Nam vì bên trái Đông có cái đầu của duck, con vịt(2). Đông đối Tây, bên phải Tây ông ta ôm 1 cái đu(móc). Hẳn bạn đọc còn nhớ cây đu của Hán cao tổ Trung hoa móc lên Du Hin hạn Ấn độ. Du của vị vua này cũng vậy, hướng móc lên cái đầu. Trên đầu vị vua, giữa trán ông ta là hình vẽ
tượng cho 2 nửa âm dương 1 thái cực. Nửa trái Đông bỏ ngỏ tượng cho Ai cập(?) Nửa phải Tây là bộ râu Pitago. Bạn đọc xem tiếp cái
miện mũ đội đầu Pharaon, trên đó là những họa tiết tâm điểm
(3). Đội đầu hình vật người đàn bà, tâm điểm, lại có cái đu móc lên. Cái gọi là vua Ai cập II tôn thờ tư tưởng bản thể vũ trụ khởi phát từ duy nhất Ấn độ của triết gia
tagore.
Ông Guillaume nghi ngờ cái áo của Pharaon là đúng. Ông nói Ấn độ không có kiểu áo này. Chỉ người Trung hoa, Ai cập và người 1 đôi vùng đất tiếp theo mới có. Như cái váy trên người vua Ai cập là áo(4). Tác giả bức điêu khắc Pharaon II lấy ý từ chữ
áo, nghĩa là 4 phương Đông Tây Nam Bắc đất có thể dùng(5).

Chú thích:
(1)Câu này của Lão Đam tức Lão Tử, Lý Nhĩ.
(2)Bạn đọc có thể thấy cái đầu con vịt ngay dưới góc trái phương Đông nam bức họa triết học Tỳ thấp nô. Dưới đối trên, trên là con ngỗng Kim Hindu và mặt trăng, sông Hằng.
(3)Bạn đọc có thể thấy họa tiết
tâm điểm ở bức họa Bàlamôn. Một trong 5 bà dùng ngón tay trỏ vẽ vào giữa khoảng không bên phải Tây(bên trái người xem ảnh) 1 đường tròn rồi dừng lại ở giữa.
(4)Ở bộ quynh
đất xa ngoài cõi nước. “Đất xa” lân cận Ấn độ, “cõi nước” Ấn độ(?)
(5)Áo nghĩa thư![]()
![]()
là sách bàn những vùng đất lân cận Ấn độ. Bạn đọc có thể thấy nghĩa lý đó ở cái áo lông ngỗng của Mỵ Châu chuyện An Dương Vương và tình tiết cuối cùng chuyện Đổng Thiên Vương Lĩnh Nam chích quái: “Cậu bé ruổi ngựa đến cây đa núi Vệ Linh cởi áo để lại lên mây đi mất”.



Đổng Thiên Vương trang 36
Ông Grevin không đồng ý kết luận giới tính Pharaon của Guillau. Ông cho rằng hình nhân kia là 1 bé trai chưa có thói quen đi giày như người lớn. Rồi Grevin chứng minh. Gần góc dưới phương Đông nam Pharaon lờ mờ 1 đôi giày cao cổ đang chờ tuổi vị thành niên của cậu. Tuy nhiên Grevin phân vân, đôi giày kia quá to so với cơ thể nhỏ con chưa chắc cậu bé là chủ nhân. Ai là chủ nhân đôi giày? Người Trung hoa? Không phải, tục của họ là dép cỏ(1). Người Ai cập? Cũng không! Người xứ sở ai
bụi, gió thổi cát bay này tục của họ là chân đất.
Vậy người Ấn độ do phương vị quốc gia này bên trái Ai cập? Có lẽ! Chỉ có người Ấn độ mới có tục đi giày như “ngày xửa ngày xưa” trong chuyện cổ tích “Đôi giày ngàn dặm” xứ nọ. Do dự, mắt Grevin lơ đãng vào khoảng trống bức điêu khắc. Trên cái rãnh ngăn cách giữa Pharaon và đôi giày là hình hài 1 con nhộng bị cắt rời làm đôi. Nửa già bên trái, nửa non bên phải dính vào đùi Pharaon. Ông thốt lên: con
tằm.
Ông Alaiin đồng ý với sơ cứu của 2 người tiền nhiệm Guillaume và Grevin. Alaiin bàn thêm khoảng giới hạn giữa đôi bàn chân Pharaon và đôi giày siêu hình. Ông lấy tượng con tằm dẫn nhập: “Con tằm nhả tơ”. Lớp tơ lụa trên thân Pharaon và toàn bộ bức điêu khắc là sự phản ánh của tằm. Rồi Alaiin chỉ vào đôi bàn chân trần vua Ai Cập. Giữa ngón lớn và ngón nhỏ nổi lên 2 đường gân. Ông nói 2 đường gân là giới hạn giữa cái
che trùm (ngón cái) và thần
thứ(ngón nhỏ). Tiếp theo Alaiin so đọ, đôi bàn chân Pharaon nhỏ, thấp hơn đôi giày. Ông giả thiết: Nếu siêu hình là đặc thù của triết học Ấn độ thì Pharaon tượng cho người Ai cập, con tằm và đôi giày tượng cho người Indo.
Trên là khảo cứu Pharaon của 3 nhà khảo cổ Pháp trong nhiều nhóm người Pháp đến Ai cập vào những năm trước chiến tranh Thế giới lần thứ nhất(2).
Chú thích:
(1)Dép dưới chân, chân dưới đầu. Ai cập phương cao Tây bắc, Trung hoa vị thấp Đông nam, quẻ
Thiên trạch Lý (dép) vị Đông Nam trong viên đồ 64 quẻ kép của người Trung hoa từ tính triết học này.
(2)Jean Arras, Ilya seulement les Arbres, Les cahiers du Musée de Louvre Paris November 1957.
Đổng Thiên Vương trang 37
Thưa bạn đọc! Chúng tôi vẫn đang bàn về “sông Hà” Kinh dịch. Lưỡng hàlà đôi Thiên hà, 2 sông (chu) trên Trời.
Khoảng thời gian người Pháp đến Ai cập thì người Anh, Đức…cũng có mặt tại nước này. Không riêng người Pháp, các nhà khoa học châu Âu muốn khám phá vùng đất gọi Trời trong cặp “Song Thiên” của nhân loại. Indo Ấn độ là tâm điểm khởi phát sự sống trên trái đất thì đã rõ(1). Nhưng không hiểu sao họ phải “né”, tránh conNgài mà “kén”, chọn Ai cập.

Đất người Hán Trung hoa là chi nhánh thứ nhất của ĐộThổ bật sang Đông. Còn Ai cập, có chắc độc lập sinh ra, không dính líu tới Ấn độ như cách luận của người Nhị nguyên? Hay cũng là 1 nửa con nhộng tằm; Như cái mầm đậu, đỗ, ĐộThổ phình lên Tây theo cách luận của người Nhất nguyên? Giả thiết và chứng minh. Các nhà khoa học phải khảo sát kỹ lưỡng các hiện vật như Tượng nhân sư, Kim tự tháp…Khai quật các hầm mộ vua Ai cập, xác định niên đại xác ướp Pharaon…Giải mã các truyền thuyết lịch sử như Thần Ra-Atum(2)…Tổ chức nhiều cuộc thám hiểm dài ngày con sông Nin huyền thoại…Cuối cùng tất cả họ cũng ngồi lại trước bức điêu khắc Pharaon II.
Chú thích:
(1)Từ trái sang phải người xem hình: Pharaon II, Kim tự tháp và tượng Nhân sư, Quán âm bồ tát(tức Nam mô a di đà Phật). Như họa tiếttrên miện mũ Pharaon, bạn đọc có thể thấy họa tiết tâm điểm trên đầu Quán âm bồ tát.
(2)Thần Ra-Atum. Thần Ra là Mặt trời thứ II. Atum. A là chữ cái đầu tiên trong bảng chữ cái hệ Latinh. Tum tiếng Anh là đùa 1 tý. Thần Ra-Atum: Đùa 1 tý thôi, Ai cập chỉ là vùng đất thứ II sau Ấn độ.



Đổng Thiên Vương trang 38
Vào luận bàn “sư nói sư phải vãi nói vãi hay”. Nhiều ý kiến trái nhau nhưng rốt cuộc vẫn quy tụ: Cái gọi vua Ai cập này chỉ 1 trong nhứng bức điêu khắc thuộc phái Siêu thực của Hội Họa. Người Pháp, ông Froissart với nhóm cộng sự của mình khai cuộc. Ông nói: Siêu thực. Siêu là không chịu đặt mình vào khuôn mẫu nào, vượt qua bầy đàn, hơn hẳn các bậc. Siêu là xa như viễn xứ, miền đất xa xôi. Mờ ảo khó nhìn thấy cũng là siêu như siêu hình, hình hài khó nắm bắt.

Nói rồi ông Froissart bỏ phần thực hình nhân vua Ai cập. Vượt qua khoảng ngăn cách ngay má ngoài chân trái Pharaon (góc dưới bên trái phương Đông Nam bức điêu khắc)(1) bàn tiếp phần siêu, mảng quyết định chủ đề tác phẩm. Trước khi vào chi tiết ông Froissart giới thiệu sơ lược các họa tiết.
Bên phải cái ghế bị cắt bỏ vai chế từ thân một loài cây không có người ngồi, dưới cùng nó là 1 đôi giày cao cổ. Tiếp lên là hàm 1 con rồng cái, miệng nhả ra cái đầu và cổ 1 con nhân xà. Lên nữa là đầu 1 con nhện không có thân và tiếp lên nữa, trên mặt ghế là già nửa 1 con nhộng tằm. Mặt trái phần trên ghế là những họa tiết được cách điệu từ những họa tiết đền Vàng Indo. Toàn bộ cái ghế như vương tơ 1 loài côn trùng
nhện(2).
Chú thích:
(1)”Đấng Thánh nhân quay mặt về phương Nam trị vì thiên hạ”_Lão Tử. Vua Ai cập nhìn về phương Nam.
(2)Nhện là 1 trong những loài trùng có sớm nhất trên trái đất. Tục dùng cành cây (chi, mộc) rào chắn trong 3 ngày yểm không cho Trùng bắt mang đi ở phong tục mai táng của người phương Đông như Trung hoa, Việt nam, Triều tiên… từ trùng, con nhện này.



Đổng Thiên Vương trang 39
Nét chấm phá chân dung vua Ai cập của người xứ Bordeaux vừa dừng lại ở con nhện thì…Như trong sương mù, người Anh vào cuộc. Bà Housman cùng cộng sự vén bức màn bí mật bức điêu khắc Pharaon II (1). Bắt đầu từ cái đu Housman nói: Tay phải vua Ai cập ôm cái đu, tay trái ông ta nắm chặt cái đốc kiếm. Thanh kiếm không có lưỡi, nó ở đâu? Lưỡi kiếm vô hình nằm ngang trên cái ghế mảng siêu hình bức điêu khắc! Nói rồi bà hướng cử tọa vào chữ
hựu trên áo Pharaon mà rằng: Có 1 đường cong như 1 nửa cái chén kết hợp với chữ hựu tạo thành Ω(2). Họa tiết ômega được chia làm 2, nửa non chữ hựu ở dưới, nửa già 1 nửa cái chén ở trên. Toàn bộ là cái chén úp xuống(3). Bà Housman còn nói thêm: Họa tiết
tượng cho IndoEuropean, 1 loại ngôn ngữ kết hợp giữa tiếng Ấn độ và tiếng Châu âu. Muốn khảo cứu các Pharaon Ai cập, ngoài ký – ký hiệu và tự – chữ viết thông dụng cần phải có loại ngôn ngữ này.

Chú thích:
(1)Bạn đọc có thể nhận diện con số II ở họa tiết giống 2 cái chén úp và 2 chữ Ω ômega ngay bên trái 1 Pharaon Ai cập(ảnh 2).
(2)Ω là chữ cái cuối cùng trong bảng chữ cái Hy lạp, bạn đọc có thể nhận diện nó ở trên đầu 2 nhân vật trong bức họa Asin và cha Sam(ảnh 3).
(3)Phúc uyển là cái chén úp. Ai cập vị Tây Bắc, Trung hoa vị Đông Nam. Quẻ cấn phúc uyển Tiên thiên bát quái Kinh dịch người Trung hoa xếp vị Tây Bắc từ cái chén úp này(ảnh 4).




Đổng Thiên Vương trang 40
Nhóm các nhà khảo cổ người Anh đến Ai cập lần này có bà Ingerid nguyên là nhà Văn học sử, chủ bút 1 tờ báo ở NewDelhi. Thời gian sống ở Indo, Ingerid luôn tìm hiểu Văn hóa nước này. Bà rất phân tâm về tục thờ cúng của người bản địa. Ingerid nói: Người Ấn độ thờ Vàng thì có thể vì Vàng là loài Kim vững bền nhất trong nhóm Ngũ kim Vàng, bạc, đồng, sắt, kẽm. Thờ Hymen hình vật trinh nữ cũng có thể vì cô gái tơ non kia sẽ là người Mẹ để cho người Á, Hán, China “một lòng thờ Mẹ kính cha” và người Âu, Hy Lạp, Dorian(1) tôn trọng Dame đàn bà. Nhưng người Indo thờ các con số thì không thể bởi cũng vô tình như số La mã người ta đều tai nghe mắt thấy chúng.

Nói liền 1 mạch như những thiên Epic Anh hùng ca Hy lạp, đột nhiên bà Ingerid…dừng lại chỉ vào 1 hình vẽ chi chít những con số rồi tiếp tục: Đây là
Hà
Đồ của người Trung hoa, họ đồ họa lại các con số sông Thượng giới(2). Đồ hình gồm 10 con số nhỏ. Những con số lẻ gọi là cơ, dương, số Trời. Gọi Trời do Trời thuộc dương. Những con số chẵn gọi là ngẫu, âm, số Đất. Gọi Đất do Đất thuộc âm. Nếu dùng phép Diễn số thì tổng các số Trời 1+3+5+7+9=25. Tổng các số đất 2+4+6+8+10=30. 30 là con số Đất mà người Ấn độ thờ phụng. Nói rồi bà Ingerid chỉ lên bức họa biểu tượng quốc gia Indo: Kia là con số 30, trên con số 30 là 1 nửa con mắt ngỗng Hằng nga. Con số 30, số 3 trước, sau nó là con số 0 được cách điệu thành 1 Masterkey(3) chìa khóa cái cả…Bà Ingerid ngừng lời rồi cũng rất đột nhiên bà cao giọng: Người Indo dùng
âm (nhạc, văn) và
sắc (màu, sắc tướng) để diễn đạt những tư tưởng triết học. Cần phải có loại “chìa” này để mở nắp “Áo quan” cho các Pharaon Ai cập(4).
Chú thích:
(1)Có 1 thời kỳ lịch sử, quốc gia Hy lạp mang cái tên như vậy. Dorian: thuộc về Dô và Re.
(2)Đời Tống Trung hoa có Trần Đoàn nghiên cứu Lý số. Số
là những con số đếm. Lý
tử lý, quê cha đất tổ. Lý số là con số của quê cha đất tổ.
(3)Bạn đọc sẽ rất khó khăn để nhận diện Cái chìa khóa
ở 1 họa tiết dưới góc trái bức điêu khắc vua Ai cập(ảnh 4). Rất dễ dàng với những chìa khóa minor thứ ở tay phải Thần Re và tay 2 cô gái trên bức họa trong hầm mộ 1 Pharaon(hình 3).
(4)Nguyên văn: “Indian people use Music, poems and Songs to show their Philosophic indeologi”. Dubline Ingerid, talks outside page, HongKong June 1893.





Đổng Thiên Vương trang 41
Người Pháp bà Nothomb trở lại mảng siêu hình bức điêu khắc chân dung vua Ai cập. Mở đầu tham luận của mình Nothomb bộc bạch: Tôi là sinh vật học gia trong nhóm nghiên cứu phương Đông của nước Pháp. Tới Đông dương có người hỏi tôi: Tại sao 3 nước Đông dương, người Pháp đặt cho cái tên IndoChinaFrancaise nghe chẳng Đông dương tí nào cả. Thay cho câu trả lời tôi hỏi lại người kia: Ngài biết câu chuyện đầu và đuôi của người An nam chứ? “Con tằm nó nhả ra tơ, người ta đưa tơ bán cho người Trung quốc, người Trung quốc dệt thành the rồi bán sang ta…” Tằm(1) (hữu hình) nhìn trông thấy. Nó(vô hình) ngôi thứ 3 số ít chỉ tằm. Người ta(vô hình) cũng ngôi thứ 3 số ít nhưng ám chỉ ai? Ấn độ chăng? Do phải “né” tránh cái “kén” trong đó có con Ngài(2)? Đúng vậy thì Nhộng tằm tượng cho Indo, quốc gia của
tâm điểm khởi phát sự sống trên trái đất. Nói cái gì cũng phải có đầu đuôi, sau trước. Ba nước Đông dương Việt nam, Lào, Campuchia người Pháp gọi IndoChinaFrancaise? Indo Hin’du (hạn) là con tằm thuộc đầu. China (hán) 1
chi nhánh, 1 ấp
trang trại của Ấn độ là tơ thuộc thân. Hạn (hin) và Hán tuy 2 mà 1, 1 cái đầu, Hạn Hán. Khu vực Đông Nam Á chỉ có Việt nam, Lào, Campuchia là đất thuộc Pháp nên IndoChinaFrancaise. Gọi vậy đủ vì đã có đầu tằm, thân tơ, đuôi the
nhiễu(3).

Chú thích:
(1)Tàm
con tằm lúc bé tới lúc lớn lên tất 2,3 lần lột xác. Mỗi lần lột xác nằm yên trong 3 ngày không ăn, không cựa quậy gọi là tằm miên, tằm ngu. Ngu 3,4 lượt mới lên né kéo kén. Kéo kén xong hóa con nhộng. Ít lâu sau hóa thành con bướm đục thủng kén bay ra gọi là con Ngài.
(2)Ngài
là loài bướm đen lẫn những chấm trắng. Nhìn thẳng thì mặt nó hao hao giống mặt Người. Đặc biệt râu Ngài đẹp như râu Chính nhân quân tử. Tục xưng hô tôn quí ngôi thứ 2 Ngài của người châu Âu từ … con Ngài này.
(3)Bạn đọc có thể nhận diện 2 con Ngài(hình nhân có râu) trong hầm mộ 1 Pharaon(ảnh 1). Và 1 con Ngài tư thế nằm, bên cạnh là 1 hình nhân có cái đầu chó mõm dài tư thế đứng ở 1 bức họa gọi là ướp xác(?) vua Ai cập(ảnh 2). Thêm nữa bạn đọc có thể nhận ra 1 con Ngài trong cái chảo bếp của Hội Họa Hy lạp. Với cái bụng no tròn như bụng Phật di lạc, Ngài ngồi trên 1 chiếc thuyền được cách điệu thành 1 con cá đực lớn loại 1 sừng(ảnh 3).




Đổng Thiên Vương trang 42
Hết tự bạch, nhà sinh vật chuyên “vạch lá tìm sâu” hướng cử tọa lên họa tiết “con tằm, đôi nửa”(1) bức điêu khắc Pharaon II. Đôi nửa! Bà Nothomb đang giải thích tại sao gọi đôi
lưỡng mà không là nhị
2 thì có tiếng xì xào… phải nhường lời cho 1 cử tọa người Áo:
– Thưa bà Nothomb! Được biết những bức họa Pharaon có cách đây khoảng 3000 năm. Người Ai cập coi Pharaon II này là 1 trong những Vua vĩ đại nhất của họ. Tôi nghĩ phàm con Người thực thể mà cứ “bới lông tìm vết” như thế này liệu đúng với chức năng khảo cổ không?
– Thưa ông Heinrich! Giống
tức người Phoenix ngày xưa là tổ tiên của người Ấn độ ngày nay. Họ có cả kho Triết học khổng lồ gồm những Âm Dương, Ngũ hành, Can chi… kể cả Toán học. Tiếng Phoenix phạn
là ngậm. Do phải ngậm nên những tư tưởng Triết học như đã nói, người bản địa dùng Văn Nhạc, Hội Họa để diễn đạt chúng. Nghệ thuật là suy diễn. Chúng ta đã thống nhất cái gọi là vua Ai cập II kia chỉ là 1 bức điêu khắc nên với nó phải dùng phép DeduktiveMethode đặc thù. Đương nhiên suy diễn phải có chứng luận. Chứng ở đây là những ký tự, dấu vết… để từ đó tổng hợp, luận chủ đề tác phẩm. Tôi nghĩ chúng ta đã đi đúng đường của công việc khảo cổ thưa ông(2) Heinrich.

Chú thích:
(1)Bạn đọc có thể thấy dâu, tằm ở 3 bức Họa Ấn độ. Bức 1: Cái nong tằm(không có cạp nong) như cái ghe treo lơ lửng giữa Trời, dưới nó là các nhân vật. Trong cái nong là những kén và nhộng. Chúng được cách điệu thành những đồi dâu, có nhiều dòng nước chảy xuống. Bức 2: 3 nhân vật đang uống nước từ 3 cái bình được cách điệu thành 3 con nhộng. Bức 3: Ngay dưới chân bên phải 1 nam 1 nữ là đám tơ tằm bùng nhùng, trong đó có 3 cái kén hình hài 3 con nhộng.
(2)Tỵ
là cái mũi – Ông thủy tổ… Tục “vuốt mặt nể mũi” của người phương Đông và tục xưng hô ngôi thứ 2 tôn quý Ông từ cái mũi Tỵ này.


Đổng Thiên Vương trang 43
Đôi nửa con tằm. Nửa trước hướng đầu về cái kỷ, ghế dựa, nửa sau tẽ ra như cái… ngư
con cá. Cái đuôi tằm. Phần trên dính vào đùi Pharaon, phần dưới với những sợi tơ như cái vây cá buông thõng. Cử tọa theo hướng cái vây cá nhìn xuống. Dưới đế đôi giày cao cổ siêu hình là 2 cá
Cái(1), 1 lớn 1 bé. Cái bé bên phải, bên trái nó là Cái lớn. Trong đám bùng nhùng “rối như tơ vò” , miệng Cái lớn ngậm chặt toàn thân con giao
ngan Wildgoose(2), 1 loài ngỗng mái chuyên sống ở núi rừng hoang dã. Cả 4 cái đầu: 1 tằm, 2 Cái cá, 1 ngan đều hướng về Đông Nam, bên trái bức điêu khắc. Phương đó có người Indo do Ai cập vị phải Ấn độ chăng?
Giả thiết rồi bà Nothomb chỉ vào đôi giày tiếp tục: So với kích cỡ đôi giày thì vị vua Ai cập không phải chủ nhân nó. Hình nhân (bà chỉ tiếp vào 1 bức tượng Pharaon) bên trái vua Ai cập kia là đàn bà. Như bộ ngực có 5 vạch ngang, phần bụng giữa là cái rốn cũng có 5 vạch. 5 ở ngực, 5 ở bụng vị chi là 10 thập toàn, con số thành của hành
Thổ. Bà Nothomb chỉ tiếp xuống cái âm vật lồ lộ như dính vào vai trái Pharaon rồi kết luận: Chủ nhân đôi giày siêu hình này là 1 người to lớn: “Trời để lộ ra ngoài”![]()
khổng lộ(3). “Trời”, đó là người đàn bà![]()
Ấn độ.
Chú thích:
(1)Tiếng Phạn và Hán tự nếu đọc ngư là con cá nhưng nếu đọc cá là cái, quả như nhất cái: 1 cái, nhất quả: 1 quả. Nhà Phật có chữ Chính quả tức Cái chính, Quả chính. Chính và phụ. Phụ là những vùng đất
áo, Intheneighbaurhood lân cận Ấn độ.
(2)Bạn đọc có thể nhận diện 2 trong 3 con ngan ở 1 bức họa Ai cập: Con lớn đi trước đang Phạn “ăn cơm” của Ấn độ. 2 con bé đi sau của Ai cập(ảnh 2).
(3)Chuyện Đổng Thiên Vương(Thánh Gióng) trong Lĩnh Nam chích quái có tình tiết: “Thánh Nương đi hái dâu đầu làng thấy 1 vết chân khổng lồ bèn đưa chân ướm thử. Bỗng nhiên thấy lòng rung động rồi có thai”. Dâu tượng cho Tây phương Ấn độ(Bể tượng cho Đông phương Nam hải) –Thành ngữ “bể dâu”, “dâu bể”. Vết chân khổng lồ đó của người đàn bà![]()
Ấn độ.


Đổng Thiên Vương trang 44
Thưa bạn đọc! Chúng tôi lại vẫn đang bàn về “Sông Hà” của Kinh dịch. Bà Nothomb tiếp tục tham luận của mình:
Người Âu chúng ta trọng đàn bà, người Trung hoa cụ thể hơn là thờ Mẹ. Còn người Ấn độ thì chi tiết đến tận
ty, họ thờ Hịm(1). Tại sao vậy? Phải chăng người ta chỉ nhìn hữu hình từ cái lỗ nọ chui ra. Mà không cần biết để có mình, ngoài Mẹ phải có Cha. Đó là những con
trùng nòng nọc sau này trở thành Ta(2)?. To lớn thuộc Dương, nhỏ bé thuộc Âm. Giống đực thuộc Dương, giống cái thuộc Âm. Trời thuộc Dương, Đất thuộc Âm. Người Indo thờ Trời nhưng Trời là đàn bà. Đàn bà mà to lớn. Trời mà có âm vật. Nghe buồn cười! Có lẽ phải dùng Triết học của người bản địa mới sáng tỏ điều phi lý này.

Chú thích:
(1)Bạn đọc có thể nhận diện cái Âm hộ trong những bức họa Ấn độ. Bức 1: Cái ức 4 con ngựa cái và những cái quần lót của con gái. Bức 2: Lỗ tai 4 con ngựa cái và chính cái tai của nhân vật gái. Bức 3: Cái cổ 4 con ngựa cái là phần bụng của con gái với những cái quần như sắp tụt xuống dưới ấy. Bức 4: Giữa bụng, lưng, đùi 2 nhân vật (trừ ông già đang hiến dâng cô gái 1 cái kén tằm). Riêng nhân vật lưỡng tính giữa đồ tròn. Dưới háng “cô cậu” là cái âm vật, đặt ở trên nó là cái dương vật.
(2)Tục xưng Cha mình là Bọ, Bố (đọc trại) từ trùng, sâu bọ này.




Đổng Thiên Vương trang 45
Veda![]()
vệ đà. Vệ: khí như không khí(1), bảo vệ như thân vệ, giữ mình. Vệ còn là cái vẩy của bộ cung tên… Đà: giống ngựa cõng, ngựa thồ đồ đạc hàng hóa. Đà còn là
(2) thắng đà lông ngỗng… Bà Nothomb đang định bàn về triết lý táo khí, khí khô Hin hạn Ấn độ “táo năng sinh thấp” thì… vẫn là ông Heinrich người Áo:
– Thưa bà Nothomb! Chúng ta đang bàn bức điêu khắc Pharaon Ai cập, tự nhiên lại nhảy sang Hội họa Ấn độ và bây giờ là Triết học của người bản địa. Như vậy có lan man dẫn tới lạc đề không?
– Thưa ông Heinrich… Bà Nothomb chỉ vào hình nhân nằm trong cái bồn tắm: Đây là 1 bức điêu khắc có tựa đề Pharaon Menes.

Chú thích:
(1)2 mặt âm dương Khí Huyết quyết định bệnh tật và tuổi thọ con Người. Khí vô hình thuộc phần vệ, Huyết hữu hình thuộc phần vinh, Đông y gọi là Thủy Hỏa vinh vệ. Hỏa tức khí, khí tức Hỏa, bạn đọc chú ý những họa tiết màu lửa chủ đạo, hướng đi của xe, ngựa, mũi tên (cung tên)… Thủy tức Huyết, Huyết tức Thủy, bạn đọc chú ý thêm những họa tiết màu máu chủ đạo, màu mực, dòng nước, ao hồ… trong các bức họa Ấn độ.
(2)Thân con ngỗng thì phần xương thịt ở bên trong, da lông ở bên ngoài. Hằng nga là con ngỗng Hindu. Bạn đọc có thể thấy nghĩa lý của vùng đất cách
da lông con vật bỏ đi ở tình tiết cái áo lông chim
(ngỗng cũng là 1 loài chim) của Mỵ Châu trong chuyện Thục An Dương Vương Lĩnh Nam chích quái.




Đổng Thiên Vương trang 46
Mene’s(1) là thứ(nhỏ). Vậy trưởng lớn là ai? Tất cả khảo cứu Pharaon của chúng tôi từ 1800 lại nay đang tới kết luận. Quốc gia Ai cập không có 1 vị vua nào là Majeur: trưởng(lớn); số I. Tất cả toàn là Mineur thứ nhỏ hơn, số II, Ra(re). Có khi thêm Me(mi) nốt thứ III trong 7 nốt nhạc Do, Re, Mi, Pha, Sol, La, Si xứ Dorian(Hy lạp).
![Dong thien vuong trang 46 [fix]](https://vannhacson.com/wp-content/uploads/2010/10/Dong-thien-vuong-trang-46-fix.jpg)
Nói rồi bà Nothomb chỉ lên bức ảnh số 13(2) tiếp tục: Đây là 1 bức điêu khắc có tựa đề Pharaon Ramesses II. Có tiếng bàn ghế xê dịch phía cử tọa người Áo. Nothomb đột ngột trở lại bức số 2 quen thuộc: Thưa các Ông, các Ngài! Đây là bức họa “Schmarotzer,Kleiderständer”! Tiếng bàn ghế xê dịch càng mạnh, ông chủ tọa hội thảo người Araber tuyên bố giải lao(3).
Chú thích:
(1)Có thời kỳ lịch sử, người Ai cập mang cái tên như vậy, Menes.
(2)Đây là số thứ tự cho các bức ảnh, không hàm thuật số gì.
(3)GeorgeVargas, UnsouciàIndo, Lyon, Janvier 1891.















Đổng Thiên Vương trang 47
Nghỉ giữa giờ các cuộc Hội thảo văn nghệ thường là những phiếm luận.
Quả vậy, cử tọa đi lại cởi mở với nhau. Có người nói: Người Pháp và người Anh cậy có ngôn ngữ phổ thông mà lạm dụng. Nhưng cũng có người cho rằng: Chữ viết phản ánh đời sống nên dùng chúng để nghiên cứu con người là đương nhiên. Lại có ý: Người Pháp dùng từ sai. Ví như điêu khắc thì nói bức Họa còn bức Họa thì nói điêu khắc. Cũng có người phản bác: Vẽ là dùng bút mực diễn lên Papyrus. Nhưng nếu
họa thì đã có vẽ, ngoài ra có vạch, khắc… Do vậy người ta thêm chữ hội(tụ) cho Họa. Gọi điêu khắc đã có Họa, gọi bức Họa đã có điêu khắc. Hội Họa là tụ các môn Họa.
Ý kiến qua lại nhiều nhưng cởi mở nhất là người Áo và người nước chủ nhà. Ông Heinrich:
-Tôi không hiểu tại sao biết tôi là người Áo mà bà Nothomb vẫn dùng thành ngữ Trung hoa “Giá áo túi cơm” trong khi tôi đang cởi áo chờ giải lao?
-Bà Nothomb người Pháp gốc Đức đấy!… Người Ai cập thì khôi hài hơn:
-Tiếng Đức thật thô bỉ! Pharaon RaMesses II là Vua vĩ đại nhất. Không riêng gì “của” chúng tôi, “cụ” còn là “của” loài Người, ai ai cũng phải kiêng dè. Ấy vậy giờ là “giá áo, túi cơm” thật chẳng ra thể thống gì nữa. Ôi, Vua bị lăng nhục như thần dân bị lăng nhục! Và thế là phiếm luận của người nước đăng cai bắt đầu:
– Ta thích cụ Nhân sư,
Cạo trọc đầu đi tu.
Nên vào trong Gi’za,(1)
Tránh gió thổi sương sa.
– Tôi muốn có chìa khóa,(2)
Trên mồm, tay con chó.
Để vào được hầm mộ,
Mở thêm đôi cánh cửa.(2)
– Tôi muốn có cái tai,(3)
Của ả Nhất vòi Voi.
Để về với Trần Ai,
Nghe nhạc vua tai Voi(8)(8)(8).
– Tôi muốn thành con Khỉ,(4)
Nhưng phải là vượn nhé.
Sắc mặt gan cóc tía,
Mà sâu tình thẳm ý.
– Ta muốn quỷ S’phin’x,(5)(5)
Nhao xuống vực sông Ni’n.
Giũ hết những tinh linh,
Dân yên hưởng thái bình…
Không khí trào lộng của 10 phút giải lao Hội thảo sẽ gia tăng nếu như không có 2 tiếng boong boong phát ra từ cái chuông đồng dưới bụng thần Ra mặt trời. Đi kèm là hiệu lệnh bằng tiếng Áo: Thôi đi các Ngài! Hậu nghệ(7)![]()
đã hóa làm con cóc, Molière không phục sinh. Còn AzizNesin, mẹ ông ta chưa ở cữ!
Chú thích:
(5)Quái vật Sphinx trong kịch vua Edip của Hy lạp.
(7)Tích xưa Ai cập: Hậu Nghệ đánh cắp bảo bối trường sinh của Phật hóa làm con cóc chạy trốn vào Mặt trăng.









Đổng Thiên Vương trang 48
Lại 2 tiếng boong boong, không phải từ thần Ra mà từ mông bên phải thần Hiểm(1). Ông chủ tọa Poebens người Ả rập gốc Greece tiếp tục duy trì hội thảo: Công bằng mà nói thơ cử tọa chủ nhà tuy còn ở 2 nước “nhảy ra” và “nhảy đi” của Hậu Nghệ nhưng ít nhiều cũng phản ánh được tâm tư người Ai cập. Rằng: họ đã từng có những vị vua bằng da bằng thịt hẳn hoi trong suốt những dặm trường bụi đỏ. Rằng: Những hình nhân là tranh vẽ, tượng đá tượng đồng. Rồi xác ướp kể cả các vị vua Ai cập tư thế nằm trong “áo quan” “hầm mộ”… Tất cả chỉ là phép diễn của Hội Họa cho tư tưởng Triết học. Ví như: “Lịch sử 1 vùng đất cùng 1 chủng Người” nào đó chẳng hạn… Dừng 1 lát ông Poebens hạ giọng: Hội thảo Pharaon xứ Trần Ai(2) đang đi tới cái cần tìm. Nào – Ông nhẩm đếm cử tọa hiện diện – Vào cuộc là 20 bây giờ chúng ra còn 18… Lại dừng khoảng 1 đến 2 nhịp thở… đột ngột ông Poebens cao giọng trịnh trọng: Thưa các ông, các bà! Hai cử tọa: Nhà văn trào phúng Touxten Ai cập và nhà sinh vật người Pháp Nothomb đang trên đường về với người Thiên cổ(3).
Vẫn lại boong… oong, nhưng lần này nhất loạt ở dưới bụng, bên mông và trên 2 cái váy của cả 2 thần Ra, Hiểm. 3 tiếng chuông đồng thanh phát ra nghe như 6. Ông chủ tọa cúi đầu đứng nghiêm. Cử tọa cũng đứng nghiêm cúi đầu theo ông. “Lời nguyền(4) Pharaon Hoàng đế” rồi _ có tiếng thì thầm.

Chú thích:
(1)Hiểm
chó mõm dài, như hiểm duẫn: 1 giống rợ phía Bắc.
(2)Ai cập có cái tên Văn chương như vậy, Trần Ai. Trần
cũ, (><mới) Ai
đọc Thương, âm thứ 2 trong 5 âm: Cung (Do
Thổ), Thương, Giốc, Chủy Vũ. Trần Ai là 1 cái gì đó cũ vị thứ 2.
(3)Thiên cổ. Thiên
Trời, thiên
ngàn, 10 trăm… Cổ
xưa. Người Thiên cổ là người cổ nhà Trời, người cổ nghìn thu.
(4)Nguyền
nguyện: ước như ước muốn. Hâm mộ, do hâm mộ mà cầu xin tâm nguyện được như thế.
Đổng Thiên Vương trang 49
Chiến tranh Thế giới gần kề nhưng “vấn đề Nước Lỗ”(1) còn nổi cộm. Người ta muốn làm rõ Ai cập, vùng đất gọi là Trời, Trời sau![]()
Hậu Thiên. Tuy sinh sau nhưng vị thế độc lập, không dây mơ rễ má gì với quốc gia Trời trước![]()
Tiên Thiên Ấn độ. Các nhà khoa học làm việc hối hả và kết quả dường như dành cho phái Nhị Nguyên Luận.
Lại nói Hội thảo Pharaon Ai cập. Mặc niệm lễ tang thường chỉ 1 phút. Nhưng đã 2-3 phút trôi qua mà ông chủ tọa vẫn đứng. Cái nóng xứ cát bụi, tháng 6 thử, “Hạ chí đến chó cùng đường”(2) với người Âu quả khó chịu. Cử tọa sốt ruột. Có tiếng hỏi nhỏ: Đến giờ chưa Ngài? Poebens lắc đầu ra hiệu hãy làm theo ông đứng yên ngậm miệng. Lại 1-4 phút vẫn không có dấu hiệu kết thúc sự im lặng. Cử tọa thật sự sốt ruột:
-Lâu thế hở?
-1 phút nữa!
-Ngài biết trước sao?
-Chủ tọa người gốc πtagore Greece đấy!
-Tôi không hiểu?
– πtagore(3) có 1 phái Triết học gọi là Phil’Materialistisch Duy vật!
-Tôi cũng không hiểu?
-Tức chỉ duy nhất 5 vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ của người Phil = Phạn tạo nên Thế giới!
-Ngũ hành của người Phạn = Phil?
Chú thích: 
(1)Lỗ Đặc La là sách triết Ấn độ bàn về Nước Lỗ(Ai cập). La
Sự ủy khúc khó lý giải “cái lỗ”
nước mặn, câm
, đứng riêng 1 mình như con trâu đực(đặc). Bạn đọc không nhầm với Nước Lỗ, Nước
Trâu(bộ ấp) phương Đông Nam Trung hoa thời Chiến quốc.
(2)Thành ngữ Trung hoa thời Đông chu liệt quốc.
(3)Bà Nothomb cho rằng π’ta’go’r’e là tên Văn chương của Hy lạp. Âm tiết Pita tượng cho Âm nhạc. Hình tiết π tượng cho Hội họa. R tượng cho 3 môn học đọc, viết và số học. E tượng cho vùng đất thứ 3(Hy lạp). Go là đi, ra đi. Các môn Triết học(Âm nhạc, Hội họa), Ngôn ngữ, Số học ra đi từ Quốc gia πtagore này.
Đổng Thiên Vương trang 50
-Đúng! Người bản địa diễn 10 con số sinh thành Ngũ hành khi cần phải “né” tránh Cái, Số “thiêng”.
-Thiêng! Thế nào là diễn?
-Chuyện nhỏ nhưng dài lắm! Ngài chỉ cần biết trước con số 3 sinh Mộc.
Nói rồi người kia chỉ vào họa tiết Cái âm vật non tơ trên gò má trái(bên phải nó là cái mũi
tỵ Ông Thủy tổ sứt sẹo nham nhở) tượng Nhân sư S’phin’x, ảnh 1.
-Ngài cho thêm!
Người kia chỉ tiếp vào họa tiết Cái âm vật non tơ trên trán phải(bên phải nó, Cái to hơn là con rùa cách điệu) 1 Pharaon, ảnh 2.
-Cho thêm nữa!
Người kia chỉ tiếp vào họa tiết Cái dương vật già nua(cách điệu từ đầu con rắn, có con con mắt long lanh như 1 giọt lệ dưới góc phải bồn tắm Pharaon). Trên nó là con mắt trái. Nét trên là chữ R(viết tắt từ chữ Ra), hình bán nguyệt là tròng mắt. 2 nét dưới: Nét thẳng đứng sẽ là giọt lệ, nét nghiêng là cái râu con Ngài vểnh sang bên trái(1). Cả 3: Đầu dương vật, đuôi con mắt và râu con Ngài đều hướng sang trái, bên ấy là Ấn độ chăng? ảnh 3.
-Còn nữa không?

Người kia lại chỉ tiếp 5 Cái dương vật dựng đứng đen sì(bên trái có 5 cái tạ đối trọng) nói: Tính từ phải sang trái, Cái dương vật thứ 2 nhả ra đám tơ tằm hình hài như con chó trắng mõm dài vào bàn tay cô gái là Cái âm vật cách điệu, ảnh 4.
-Diễn hay quá, tiếp tục đi!
-Muốn gì lắm thế! Phải trái, non già, dưới trên Âm Dương đủ cả. Kìa Toutou(2), boong!
Lại chuông nhưng 3 tiếng của duy nhất của thần Hiểm. Cử tọa ngước mắt thấy ông Poebens vẫn yên vị. Họ tiếp tục cúi đầu đứng nghiêm và …’Phin’ = Phạn: ngậm theo ông chủ tọa.
(1)Tín ngưỡng Ai
(2)Tiếng Pháp Toutou là con chó.




Đổng Thiên Vương trang 51
-Xin hỏi, vào mặc niệm Ngài biết trước sẽ là 6 phút do đâu vậy?
Đổng Thiên Vương trang 52
-Ngài là chuyên gia Văn minh China?
-Không! Tôi là chuyên gia Văn hóa Ai cập. Ngài cũng nghiên cứu Ai cập?
-Vâng, chúng ta đều chuyên về
Nước Lỗ.
-Tôi chưa rõ tại sao con số 3 sinh Mộc phương vị Quốc gia Hy lạp xa vời, vậy mà người China lại xếp chính Đông ngay bên cạnh họ?

-Ngài nói đúng, người China lấy 4 phương chính tượng trưng để xếp các con số sinh thành Ngũ hành(Hình 1). Nếu nhìn trên mặt phẳng bản đồ ta ngỡ 2 quốc gia rất xa nhau. Nhưng quả đất tròn, “xa lại gần”. Điều này được chứng minh: Giờ 2 nước này chỉ cách nhau gần 4 tiếng(Hình 2). 2 con số 3 trên cùng phương vị.
-Tôi cũng vẫn chưa rõ tại sao con số 3 sinh Mộc lại hàm thêm Xuân như “Ba Xuân”, “duyên nợ Ba Sinh”?

-Ngài xem Hình 3. Trên hình là phương vị 4 chi trong đó có chi Sửu, 1 trong 12 địa chi thuyết Can Chi và phương vị con số 3 sinh Mộc của người China. Ngài xem tiếp hình 4. Con số 3 sinh Mộc lẽ ra phải xếp đúng chi Sửu phương Đông bắc. Vị trí là 2/3 cung Sửu. Chính xác là ngày 23 tháng Trạp
(chạp đọc trại).
-Phải chăng là do 2 âm![]()
trạp trạp: ve vẩy tai trâu mà người ta đặt tháng Trạp là tháng con Trâu nhằm ứng dụng Văn hóa?
-Ngài nói đúng nữa rồi. Nào, chúng ta cùng xem chú thích của người nước Lỗ về Tiết, Khí trong Học thuyết Vận khí thì sẽ rõ thêm về Ba Sinh(1)(2)(3).
Chú thích:
(1)Lập xuân là 1 trong 24 tiết của năm. Tiết này bắt đầu sau ngày cuối cùng tiết Đại hàn 23 tháng Trạp. Đại hàn là rét lớn. Âm cực Dương sinh, khí dương ôn(ấm) mùa Xuân đứng dậy gọi là Lập xuân.
(2)Quyết âm phong Mộc là 1 trong 6 khí lưu hành trong năm. Khí này cũng bắt đầu sau ngày cuối cùng tiết Đại hàn 23 tháng Trạp. Quyết âm là khí âm hàn(lạnh) mùa Đông, được phán quyết nhường chỗ cho khí dương ôn(ấm) mùa Xuân gió và cây.
(3)Phạn
là cơm ăn, cũng là Restaurand phạn điếm: táo bếp. Quân vương ngôi thấp hơn Trời, Đế. Táo quân là vua bếp. Tục Táo quân chầu Trời, làm mới sửa sang mồ mả Tổ tiên hoàn tất 1 năm; Tục xin lửa, gieo trồng sau ngày 23 tháng Trạp từ tính triết học 2 loại Tiết và Khí này.
Đổng Thiên Vương trang 53
-Xem chú thích mới hiểu thêm về người Lỗ… Nhưng thực tình tôi vẫn phân tâm về con số 6, người China xếp Tây Bắc mà Ngài lại cả quyết ở Tây Nam?

Chú thích:
(1)Nguyên Kapital vốn có. Nguyên
còn là mới, bắt đầu, to lớn, đầu số, đầu người… Chữ Nguyên gồm chữ
ngột(như người què chân trái, cao chót vót, bằng đầu) ở dưới, chữ
nhất ở trên. Dụng Brauchbar dùng. Dụng
công dùng và còn là cái chĩnh
đựng đồ ẩm thực.
(2)Kinh Veda: “Táo
năng
sinh
thấp
, nghĩa là khí táo khô năng vận động sinh ẩm thấp(ướt).
Đổng Thiên Vương trang 54
-Đáp ý Ngài: Tháng 12 Sửu trạp trạp “ve vẩy tai trâu” cũng đi đúng ¼ vòng từ Đông Bắc xuống Đông Nam làm nước Lỗ, nước Trâu China! Hình 10.

Chú thích:
(1)BudéRabelais_Taoisme, I’eau va à la rivièer, Cairo Octobre 1890.

(2a)Quẻ Kiền trời sau Ai cập(góc trái dưới, ảnh 1). Trên tường bên phải, hình nhân đứng trước là con
Lão, (đọc tránh là Liêu) 1 giống rợ nửa khỉ nửa chó phương Tây Nam(Hình nhân đứng sau là
hiểm). Sau gáy, trên vai Lão là
sắc Mặt trời, ánh sáng Mặt trời. Trước miệng Liêu là mồm 1 chìa khóa thứ hướng mở sang bên phải. Trên nó là Ωomega, chữ cái cuối cùng trong bảng chữ cái Hy lạp cách điệu bằng phúc uyển, cái chén úp.

(2b)Quẻ Kiền Trời sau Ai cập(ảnh 2). Hình nhân nằm trên 3 vạch quẻ
Kiền Trời. Vạch dưới cùng đặt trên 2 cái chân chó(Sau là chân và cái đuôi, Trước là chân trước và cái đầu). Bên phải vạch dưới là nửa cái đầu con Lão Liêu. Giữa trán hình nhân, vạch trên cùng là 2 con người: 1 áo trắng, 1 áo đen chung nhau cái đuôi rắn lòng vòng như 2 cái âm vật bé gái(bạn đọc xem giữa trán hình nhân, vạch trên cùng quẻ Kiền Trời ảnh 1). Và… chú ý thêm: Đôi bàn tay vị Trời sau này nắm chặt 1 dấu X-Stop như 2 con rắn cạp nong của cái nong tằm. Một nét dấu X-Stop là cái đu(móc) cùng lông mày và khóe mắt hướng về tai trái, cái miệng
Phạn đã mở.

(3)Ảnh 3 là số 6 thành Thủy trong 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trước khi bàn qua bức họa chúng tôi xin có đôi điều về sắc màu.
Ấn độ có 5 Naturfarbe Nguyên sắc: Đỏ, đen, xanh, vàng, trắng. Mỗi sắc màu đều ứng với Ngũ hành. Đỏ thuộc Hỏa, đen thuộc Thủy, xanh thuộc Mộc, trắng thuộc Kim và vàng thuộc Thổ. Nguyên sắc là màu tự nhiên chưa bị pha tạp. Như đỏ: màu huyết Người, tiết lợn. Đen: màu áo chùng thâm các Thầy tu, băng tay của người Âu Tây, màu đêm tối (tối như đêm ba mươi). Xanh: màu lá cây. Vàng: màu khương hoàng![]()
nghệ vàng, màu cái kén tằm trong đó có con Nhộng. Trắng: màu áo, khăn tang của người Á Đông. Tục xưa, chỉ người Ấn độ mới được dùng Nguyên sắc. Còn các vùng đất
áo: Intheneighbaurhood lân cận phải dùng biến sắc Farbenmichen pha màu. Những biến sắc đó là: Đỏ: đỏ thẫm, hồng nhạt, huyết dụ… Đen: xanh đen mực Nho. Xanh: xanh rêu. Vàng: vàng đậm màu gỗ Vernis… Bức họa trên đủ cả Nguyên, biến sắc màu.
Bạn đọc nhìn sắc trời bức họa, đó là màu đỏ![]()
Huyết dụ. Huyết dụ là biến sắc dựa trên màu đỏ Huyết người, tiết lợn pha thêm chút trắng vàng. Thủy tức Huyết, Huyết tức Thủy, dùng Huyết dẫn dụ cho Thủy là Huyết dụ (Hình nhân đứng trên xa giá là số 1 sinh Thủy, hình nhân to lớn giữa là số 6 thành Thủy).
Dùng Huyết Beispielesblute dẫn dụ, bạn đọc nhìn lại nền trời bức họa. Lẫn dưới màu Huyết dụ là những đám mây trắng(biến sắc) được cách điệu thành 1 thứ bầy nhầy như chứng sổ mũi con trẻ. Cả Huyết dụ và dịch dãi này chảy ra từ cửa mình con bê cái 2 tháng chửa, người phương Đông gọi là Văn tê![]()
mây Tây (đám mây phương Tây có văn vẻ). Nhìn sang góc phải phương Tây nam, bạn đọc sẽ thấy trên đó là cờ đuôi nheo được “văn vẻ” thành con bê. Như 2 chân sau là 2 đuôi cờ, tiếp là cái bụng chửa, còn lại là phần thân cho tới nách 2 chân trước. Và tiếp ra xa, phương Bắc, Tây bắc, Đông bắc cũng những Kỳ gi![]()
cờ trăm tuổi, đuôi nheo(nheo mắt, bạn đọc có thể thấy ở hầu hết các Pharaon Ai cập và anh chàng số 2 sinh Hoả trong bức hoạ số 6 thành Thuỷ ảnh 3).
Tại sao cờ(kỳ) lại là bê(bò) cái chửa mà không phải 1 nửa con nghé(trâu)? Ông Heinrich người Áo nói rằng: Thuở khai Thiên lập Địa, khu vực Lưỡng Hà chỉ có 2 vùng đất khởi là Veland nước
Vệ và Schlechtland nước
Hèn(hèn kém tức liệt thời Đông chu Liệt quốc). Vệ(Ấn độ ngày nay) có trước, Hèn(Ai cập ngày nay) có sau, biên giới 2 vùng đất giao nhau. Như đã nói ở VEDA vệ đà, vệ khí có tính lan tỏa(bạn đọc nhìn hướng mũi tên cùng cái vẩy tên “vệ” trong 2 bức họa Ấn độ ảnh 1 và 2). Hèn bị Vệ lấn át phải co về Tây nam làm cái lỗ câm đứng 1 mình như con trâu đặc(đực), Nước Lỗ![]()
(
)Lỗ đặc(la).

Hà đồ của người Trung hoa nói: Số sinh thành của hành Kim là 4.9(4 là số Sinh, 9 số Thành). Trong 10 con số của Ngũ hành thì 9 là Dương số và là ngôi cao nhất. Vàng
loài bền vững nhất, số 1 trong nhóm Ngũ kim(Vàng, bạc, đồng, sắt, kẽm). “Trời
Đất
2 ngôi định vị”(định sẵn). Đất thấp Trời cao, Đất dưới Trời trên. Cao, trên thuộc Dương. Thấp, dưới thuộc Âm. Trời vô hình khó nắm bắt. Đất hữu hình có thể sờ nắn. Dương trường tồn (Âm đoản mệnh). Người Ấn độ Achtungsvoll cung kính Thiên Trời mà lấy Kim, Beispiel dẫn dụ. Họ thờ Vàng(ảnh 3).
Bạn đọc xem lại Trời. Chữ Thiên
Trời gồm chữ đại đội đầu chữ nhất. Hán tự nhiều chữ hàm ý Trời như Kiền
Trời, Nhật
Mặt trời… Thiên này là bầu Trời, khoảng trống thiên nhiên to lớn duy nhất.
Tiếp theo là Đất. Chữ Địa
Đất, vế trước là chữ
Thổ. Vế sau, dưới 2 nét chữ
Trạch, trên là chữ
Miên: Lợp trùm nhà ngoài vào nhà trong. Cũng nhiều chữ hàm ý Đất như Khôn
Đất, Thổ
Đất… Địa này là Thổ trạch, Đất hữu hình chở đợ bao dung muôn vật. Câu “sống mái nhà, chết mồ mả” ý đó.
Thờ Thiên, người Inder kính cả Địa. Có học giả cho là xứ này không thờ Đất. Theo ông Heinrich, Trời Đất là 1 cặp Âm Dương tương thành. Chỉ Nhất Dương Trời không có “Sinh” và duy nhất Âm Đất không có Thành. Như khí táo(khô) Hin(hạn)(Hin’du) năng vận động sinh ra Nước. Có Nước mà không có sự đón nhận lâu ngày của Đất chẳng có Thành dù là côn trùng siêu nhỏ; Loài sau lớn hơn rồi hơn nữa… Và tác phẩm cuối cùng của Weltschöpfer Tạo hóa, đó là Con Người.
Đổng Thiên Vương trang 55
Lửa khói chiến tranh đã lờ mờ bên kia bờ sông Ni’n nhưng người Ai cập cứ “bình chân” (1) như không có chuyện gì xảy ra. Phút mặc niệm ngoài chương trình của Hội thảo vẫn tiếp tục. Mặc cái nắng kinh người xứ Bể cát, cử toạ ai nấy mặt đỏ bầm, đầu cúi gằm nom họ như Ma binh trước trận bàn cỗ.
– Thưa chủ toạ _ Có tiếng gọi rất to của 1 cử toạ.
– Suỵt _ ông chủ toạ giật mình.
– Bây giờ là mấy giờ _ Vẫn cử toạ kia.
– Suỵt!
– Thưa ngài chủ toạ Poebens! Nhiệt độ hôm nay bao nhiêu?
– Suỵt, auch!
– Cha Portulak này gai góc như Sam! (2)
Lặng im đến 9 giọt đồng hồ nước, tiếng “thì thầm to nhỏ” của 2 cử toạ nào đó trở lại.
– Có ma không hở ông?
– Có chứ! Nhưng ngài hỏi để làm gì?
– Để… Eo ôi, tôi sợ… Tôi sợ nó ám!
– Ma nào mà ám _ Người kia chỉ vào bộ xương người đàn bà Khổng lộ trong 1 bức hoạ Nhật bản _ Nó đây phải không? Ông chưa dứt lời thì người này đã chồm lên ôm chặt lấy eo lưng 1 cử toạ đứng cạnh, thái độ hốt hoảng:
– Eo ôi, Nó ám tôi và cả ông nữa đấy!
– Nó ám tôi? Bà ám tôi thì có. Eo với chả Lạc! (3) Ma
, Mamá là người mẹ cớ sao lại ám các con?
Chú thích:
(1) Từ thành ngữ “bình chân như Vãi”. Bình chân là ngồi xếp bằng như các bà Vãi nhà Phật. Bạn đọc xem 2 bức họa Ấn độ. Ảnh 1: Nam mô di đà Phật tức Quán âm Bồ Tát Diệu thiện tức Phật bà, Phật Ngọc, Kim thần (vàng thần thứ). Ảnh 2 _ Yogi’n tức Yoga Dugià.
Tư thế con người: Nằm thuộc Âm, đứng thuộc Dương, ngồi thuộc Âm dương quân bình. Cả 2 nhân vật trong 2 bức họa đều ở tư thế Âm dương quân bình. Ngồi xếp bình
bằng, thân bất động, tư tưởng tập trung cho 1 vấn đề nào đó gọi là bình chân, “bình chân như Vãi”.
(2) Bạn đọc xem Asi’n trong 2 bức họa Hy lạp. Ảnh 3: Thoạt nhìn thì hình nhân kia là trai nhưng gương mặt, đầu tóc, bộ phận sinh dục lại “nửa nọ nửa kia”. Nhân vật Asi’n trong “Con ngựa Thành Drei” hay “Gót chân Asi’n” không rõ giới tính. Ảnh 4: Cũng Asi’n nhưng “môi đỏ má hồng”, “thắt đáy lưng ong”… Nhân vật này là gái. Nàng đội cái mũ bằng con Sam Portulack với cái đuôi thõng xuống phương Đông(tục “tóc tết đuôi Sam” và cái đuôi vô hình đảo Bạch long vĩ của người phương Đông từ tính triết học này). Asi’n và cha Sam buộc chặt tay chân với nhau bằng dải lụa trắng. Cả 2 ngồi xe, chiếc “xe hoa” 3 bánh (số 3) cách điệu thành 3 bông hoa (số 3)… Asi’n, chúng tôi dịch: Asiatisch Châu Á, vùng đất thứ Á hậu; yếu, là cái “gót chân” của Vũ trụ.
(3) Lạc
sông Lạc, vùng đất của Lạc. Như Lạc thú(yêu, vui thích), Lạc Nhạc(Âm nhạc), Lạc bác: màu sắc loang lổ của con Ngưu (Họa); Lạc thúc
đậu khấu – hạt lạc…
Đổng Thiên Vương trang 56
Lại im lặng cũng 9 giọt đồng hồ nước. Người ta chỉ nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc và như ai đó đang lặc khặc ho, căn bệnh của người ngứa cái lỗ tai to.

Lại nói người đàn bà nào đó đang ôm chặt eo lưng 1 cử tọa đứng cạnh. Người này vùng vằng cố sức gỡ tay bà ta ra nhưng không được… Cực chẳng đã phải nhờ tới ngón chân cái, cù vào chốn Thâm Nghiêm cũng không xong. Ông bất lực thở dài. Tiếng thở dài ngao ngán không khí lễ tang hội thảo. Cử tọa lắc đầu và không ai bảo ai, tất cả đều hướng về ông Poebens như chờ 1 phó cáo. Đúng thế, 18 tiếng chuông đồng của thần Ra và thần Hiểm gióng giả vang lên cùng hiệu lệnh tiếng Đức: Hạ màn đi hỡi Nghệ nhân nửa mùa; Cao tổ Schächspire và Scharler đang chờ chúng ta bên kia núi! Bình, boong…
Đổng Thiên Vương trang 57
Hiệu lệnh chưa dứt …
-Này, người ta đang mặc niệm mà các ngài lại ôm eo nhau, lễ tang còn nghiêm túc?
-Do cái này – Câu đối cay như 1 nhát gừng
sinh Khương(1).
-Các người đã liêu tịch rồi sao còn “ngổn ngang gò đống” ở đây?
-Tại cái nọ – Lời đáp đắng như 1 nhát Khương
hoàng Nghệ.
-Thế là thế nào? Vẫn câu hỏi của cử tọa người Đức, bà Doris.
-Đó đó! Do mùi ôi của![]()
sông Hy(2) mà tôi đi – Người này chỉ vào họa tiết như dòng sông màu phân người trong bức họa Nhật bản, ảnh 1– Và cũng do hương thơm của lạc nên tôi ở lại – Người kia chỉ vào 3 họa tiết như 3 củ lạc dựng đứng màu Hung(màu gạch nung) cũng trong bức họa Nhật bản, ảnh 1.
-Ồ… Tiếng ồ kéo dài rõ to như “nước chảy chỗ trũng”. Cử toạ đang chơi với “nỗi buồn”, ngỡ Thánh nhân Lão Lai tử(3) xuống thế, họ bỏ cuộc trở lại thì té… ra vẫn là bà Nothomb người Pháp và ngài Touxten người Ai cập mà chủ toạ Poebens tuyên ngôn đã chầu Giòi(4).

Chú thích:
(1) Gừng vị cay, tính ấm. Tác dụng kích thích tiêu hóa, giải biểu(cho ra mồ hôi), tán hàn(phát tán khí lạnh). Nghệ vị đắng, tính mát. Tác dụng yên Magen(dạ dày), mau chóng lên da non các vết loét… Cả 2 gừng và nghệ đều ích lớn cho Vị(Magen, dạ dày, bao tử).
Thời tiền sử, người Ai cập gọi người Trung hoa là Khương, Rợ
Khương.
(2) Hán tự nhiều âm “Hy”. Chuyện Đổng Thiên Vương hồi 6 Lĩnh Nam chích quái có đoạn: “Phía Tây Bắc nước ta giáp nước Thi La Quỷ. Vua nước ấy tên là Hy Bắc Kịch manh tâm thôn tính các nước xung quanh…” Hy
phần, BắcT
ây Bắc, Kịch
quá lắm. Hy Bắc Kịch là Phân Bắc quá lắm. Bạn đọc xem lại phương vị số 6 thành Thủy phương Tây bắc.
(3) Lai
là đến, đến sau ngược với khứ đi. Thời tiền sử người Trung hoa gọi Lão tử là người từ nơi khác đến. Bạn đọc xem lại lần nữa phương vị số 6 thành Thủy ở trên. Lão tử là con số 6 thành Thủy Lão âm thể Dụng chăng?
(4) Giòi
ấu trùng ruồi nhặng. Thời tiền sử người Ai cập mệnh danh là Trời(Trời sau, hậu thiên). Tránh phạm húy, người An nam đọc trại Giòi thành Giời cho giống Trời(do âm tiết ơi 2 chữ).
Đổng Thiên Vương trang 58
Giải lao lần này vui hơn trước. Cử tọa đi lại nói cười, đứng lên ngồi xuống, vặn cổ vươn vai y trong sân chơi. Dường như họ muốn xả hết hơi sau 18 phút phải nín thở cho 2 thây ma người nước Lỗ.
-Này Heinrich – Bà Doris chỉ vào 1 chú phệ lùn đứng yên cho 1 cô “lưng eo” ôm lấy bụng mình – Cái gì đây?
-Pflock mit… Cọc và… Ông Heinrich trả lời.
-Tôi không hiểu! Cậu nói tiếng gì thế? – Bà Doris hỏi.
-“Thi bổ”, thứ tiếng người ta dùng diễn văn!
-Làm gì có tiếng đó! Tôi là chuyên gia ngôn ngữ cậu biết?
-Pflock mit hay Büffel und… Cọc và trâu, trâu với cọc đều vậy thôi. Đó là loại từ Chu Văn Vương Lão tử dùng để diễn 1 ý văn, “thi bổ” hoán từ thành thô bỉ. Ông Heinrich ngần ngừ… bỗng có tiếng “tùng cắc”…
-Này Heinrich – Bà Doris chỉ vào ông Touxen và bà Nothomb đóng thế cho cái cọc trâu – Phải chăng do họ người nước Trâu mà ông ví là cọc trâu, trâu cọc? Bà Doris dùng giằng… Lại vẫn tiếng “tùng cắc”… Hai người dỏng tai, giương mắt xem đó là âm gì, từ đâu khởi thì: Đây rồi, đây rồi! Có tiếng ai đó gọi rất to. Cử tọa giật mình ngoái cổ lại thì thấy Chủ tọa Poebens vác trên vai 1 cái trống phương Đông thình thịch từ phòng Hội thảo chạy ra. Nhẹ nhàng đặt cái trống xuống góc sân chơi, ông lên giọng: “Ngôn(tiếng) gió bay, chỉ có Ngữ này là mãi mãi”.
Ngắm nghía 2 cái dùi đỏ đen, ông chủ tọa gõ cái “đen như nhọ” xuống
tâm điểm mặt trống: “Tùng”. Lại gõ tiếp cái “đỏ như sơn” lên tang trống: “Cắc”. Ông mỉm cười ý nhị: “Mời các Ngài vào vị trí tang lễ”. Cử tọa vốn nghiêm lệnh ông Poebens, họ lần lượt xếp thành vòng tròn quanh cái cọc trâu người Lỗ chờ dạo Nhạc. “Nào, tùng cắc tùng cắc, tùng cắc tùng cắc. Dung giăng dung dẻ, dung giăng dung dẻ. Một, Hai”!
Đổng Thiên Vương trang 59
-Rung trăng vui vẻ,
Có 2 em bé,
Một trẻ một già,
Nhầm Mẹ với ma.
-Tùng cắc tùng cắc,
Lộn người sang Bắc.
-Cắc tùng cắc tùng,
Lộn người sang Nam.
-Cắc cắc tùng tùng
Đu người hàng dọc.
-Tùng tùng cắc cắc,
Đu người hàng ngang.
-Kẻ ưa thức khô(1),
Bỏ rô lấy riếc.
-Người ưa thức ướt,
Bỏ cá lấy cà.
-Thực ở lò tơ(3),
Phúc(2) nên giả lép.
-Thực nơi lò nhở(4),
Thả bụng thật tròn.
-Vui vẻ rung trăng,
Một bà 1 ông,
Đã sang Quốc Mẫu,
Lại về Hội thảo.
Tùng tùng cắc cắc, rình rình nhấc nhấc. Cắc cắc tùng tùng, nhấc nhấc rinh rinh, nhấc nhấc khiêng khiêng! Không ai bảo ai, tất cả cử tọa xúm vào cái “cọc trâu” ông Touxen và bà Nothomb đóng thế. Họ nhấc bổng 2 người lên vai chạy như bay vào phòng Hội thảo. Also, scheissen Dọn!
Chú thích:
(1) Táo
khô, táo
cũng là bếp lò. Bạn đọc xem 2 cái “lò tơ” ở bụng, “lò nhở” ở chân nhân vật “chú lùn” trong 1 bức hoạ Ấn độ (ảnh 1) và cái bếp lò bật nắp của người Trung hoa trong bức hoạ Nhật bản (ảnh 2).
(2) Phúc
bụng, phúc
cũng là lành. Bạn đọc xem cái bụng có chữ phúc lành trên thân Phật![]()
Di lạc (ảnh 3).
(3) Vần “ôn”. Bạn đọc xem hoạ tiết như 6 cái đầu con rắn ở vành mũ nhân vật tượng cho quẻ
Khôn tiên thiên Trời trước Ấn độ (ảnh 4).
(4) Vần “ôn”. Bạn đọc xem hoạ tiết như 6 nửa dấu ngoặc đơn giữa trán nhân vật tượng cho quẻ
Khôn hậu thiên Trời sau Ai cập trong bức hoạ Ấn độ (ảnh 5).
(1) Phạn
= Restaurand = Táo(bếp lò). Chúng tôi đang tìm cái Thiên táo(bếp của Trời), chủ nhân các loại Táo quân(bếp của vua, vương ngôi thần thứ) trong bức họa Nhật bản ảnh 2.
Bức họa nhìn lên phương Bắc thì bên phải người xem hình là Tây. Bạn đọc nhìn sang phải: Dưới cái ống thổi lửa hình chữ nhật
, chất liệu bạch kim Platin kền là hình nhân 1 ông Lão đầu tóc bạc trắng(màu trắng bạch, bạc thuộc Kim, Kim sinh thành tại Ấn độ). Lão không có chân(dường như đôi bàn chân, gốc rễ của 1 con người đang đặt ở nơi nào đó ở dưới) mà mặc cái áo Blutbeisspiele Huyết dụ(màu đặc trưng bầu Trời Ai cập, bạn đọc xem lại bức họa số 6 thành Thủy của Ấn độ ở trên). Bên trái ông Lão(phía xa, sau cái Nhà bếp lò) của người Trung hoa là Kim Tự Tháp Giza Ai cập. Hình nhân kia là Lão tử? Ông muốn dẫn dụ gì trong bức họa này?
Những năm 1800 “Vấn đề Ai cập” còn nóng bỏng. Phái Philmorismus vẫn ra sức luận cho tư tưởng![]()
Nhất nguyên: Sự sống trái đất bắt đầu từ 1 vùng đất to lớn. Vái chào Grosseschnumpe Ấn độ, theo bàn chân trái bước ra trước của Phật Di Lạc, các nhà khoa học đến làm khách xứ Kleineschnumpe. Vừa “chân ướt chân ráo” tới Tây tạng họ gặp ngay Thái thượng Lão quân, 1 nhân vật huyền thoại thời Chiến Quốc.
Đổng Thiên Vương trang 60
-Thưa các ngài – Như từ trong đám tang thực sự bước ra, chủ tọa Poebens trở lại cương vị – Hơn nửa thời gian, hội thảo Pharaon đã chứng minh cái gọi vua Ai cập là ngôi vị thứ 2_số II, phần thân 1 giống vật, Nhỏ – cái âm vật nhỏ, chữ A lớn,… Còn non nửa dặm đường
Thiên Lý câu(1) (ngựa 2 năm tuổi Ai cập ảnh 1) chúng ta phải tìm được “Ai đó” ngôi vị thứ nhất_số I, nửa đầu 1 giống vật, Lớn – cái âm vật lớn nhất, chữ I lớn… Trước khi sang vấn đề nổi cộm China tôi đề nghị chúng ta chắp nối các sự kiện.

Cử tọa hiểu ý ông Poebens, họ ghép các mảng từng bức họa lại với nhau. Tiếng sột soạt tranh ảnh giấy tờ cùng ờ-Ja, no-yes… nhộn nhịp. Không khí Hội thảo sống lại sau 18 tiếng mặc niệm.
-Ông Heinrich – phì phèo điếu xì gà trên môi, bà Nothomb hỏi.
-Lửa cháy Cung A phòng – tay cầm cuốn Đông chu Liệt quốc, ông Heinrich trả lời.
Bà Nothomb định hỏi ông Heinrich điều gì đó trong bức họa 3 con Ngan(ngỗng mái Wildgoose) Ai cập ảnh 2, nghe 2 tiếng “lửa cháy” bà nhìn ngược lên mái tóc mờ mịt khói thuốc lá của mình.
-Ông Heinrich, hạn ở bức họa này có liên quan gì đến hin trong chữ Hin’du, Hin’du’ismus không – bà Nothomb.
-Là một, bà xem: Con đi trước đang Phoen’ix = Phạn “ăn cơm” của Indo, 2 con bé đi sau của Ai cập. Cả 3 đặt trên 1 nền đất khô hạn, nứt nẻ. Đất phía 2 con ngan Ai cập khô hạn, nứt nẻ, cang cực hơn nên âm “hin” trong Hin’du = hán cũng = hạn.
-Người Trung hoa gọi người Ấn độ là Tây Hán, người Ai cập là Nam Hán cũng do vậy phải không?
-Vâng Thủy, Hỏa, Lửa và nước… Ông Heinrich chỉ tay xuống mõm đôi giày cong như 2 cái ghe của bà Nothomb.
Ý tứ nhìn xuống dưới, chả là sau vai diễn cái “cọc trâu” ngoạn mục, mồ hôi có thể chảy ướt áo, bà Nothomb nghĩ vậy:
-Ông chỉ trỏ cái gì thế?
-Tôi đang nghĩ về Cung a phòng. A là chữ cái đầu tiên hệ Latinh, phòng zimmer nhỏ hơn Haus nhà, phòng nằm trong nhà…
-Còn Cung – Bà Nothomb nôn nóng.
-Tôi đang định nghĩa chữ Cung nhưng khó quá. Nhất là trước người đẹp như bà ngôn tôi không được tục – ông Heinrich.
-Thì ông cứ “ngôn tục” mà “giảng thanh”. Y học coi cung chỉ vài ba lạng, nào ai chê ít chê nhiều.

Ông Heinrich vẽ 1 vòng tròn từ chân lên đầu sang cả 2 tai bà Nothomb rồi dừng lại ở cái mũi của mình. Còn bà Nothomb dõi theo ngón tay trỏ chàng Tây ngộ nghĩnh, đôi môi mỏng dính cong lên, bà chờ thêm một lời khen.
-Cung là… Quay mặt giấu cái ho lặc khặc, bất ngờ ông Heinrich trở lại chỉ vào cái miệng xinh đẹp của bà Nothomb _ cung là… Lò… òn!
Ngớ người ra một lúc bà Nothomb mới nhận ra đó là gạo tẽ, Hồ nam gọi là gạo lòn. “Cung là gạo lòn” – bà lẩm bẩm – Cung A phòng là cái gạo Lòn a cấp phòng Đông Hán trong cái nhà công KatholischeMission Tây Hán.
-Đúng Arbres là vùng đất của hạn hán nắng lửa – bà Nothomb.
-Đó là thứ Lửa hữu hình đốt cháy cái gạo Lòn Chi
na
, một ấp, nhánh, trang, chi của Indo – ông Heinrich(2).
-Không sai, đó cũng là thứ Lửa vô hình quẻ Kiền Trời sau Schlechtland nước Liệt thể Nguyên Original. Biểu tượng là lâu đài xây bằng Ziegelrot gạch nung Hung phương Tây nam trong bức họa quẻ Khôn Trời trước Ấn độ ảnh 3.
-Và cũng không sai khi nói rằng: Ngũ hành tương khắc Thủy khắc Hỏa. Nhưng… nếu Hỏa vượng thì Thủy sẽ sợ mà suy yếu. Đây là pháp(phép) tương úy trong 5 cái tương quan của Ngũ hành(3).

-Lửa cháy Cung a phòng – cả 2 bà Nothomb và ông Heinrich – là một thiên anh hùng ca trong cuốn văn học sử Đông
chu
Liệt
quốc
của người China bàn về 1 giống người gọi Hung nô đến cao nguyên Tây
tạng
; Họ mệnh danh Trời, “thay Trời hành
đạo
”giáo Lehre dạy người Hán.
Khúc song ngôn của bà Nothomb và ông Heinrich chưa kịp dừng lại ở âm “han” thì hàng tràng pháo tay nhiệt liệt. Giữa chiều tà xứ sở Hỷ Lạc, trong căn hầm 18 vạn muôn m2 dành cho Hội thảo Pharaon này; Người ta khó phân biệt đâu tiếng chó sủa, đâu tiếng nồi niêu bát đĩa sau dậu bờ và… đây là tiếng trống “tùng tùng” của chủ tọa Poebens: “Lạy Giòi”, đã đến giờ Imbiss – Điểm Tâm!
Chú thích:
(1) Trong Tiêu dao du Nam hoa kinh của Trang Tử có 6 chữ “Kìa bóng câu, kìa vẩn bụi”. Kìa bóng câu: Ngựa 2 năm tuổi Ai cập đã ngã bóng sang China. Kìa vẩn bụi: Cát bụi xứ Trần Ai đã vẩn đỏ sang vùng đất Đông Hán.
(2) Heinrich Werner, Ägyptenland ist oft sehr heiss, Vienna Mai 1892.
(3) Theo Tần Thủy Hoàng bản kỷ, Tư Mã Thiên sử ký.
Đổng Thiên Vương trang 61
Cử tọa nhìn những cái Hậu
Phạn
Anat Schlüsselbein ảnh 1 và ảnh 2 của người Indo Á châu; Họ cầm lấy xiên dao tản mát tìm bạn nhậu.

Không để mọi người chờ lâu, ông Poebens cất giọng trịnh trọng: “Thưa quý bà, quý ông! Sau 1 ngày làm việc khẩn trương, hôm nay có bà Doris phái Duy thực(1), đã đến giờ phạn tục, chúng ta cùng ăn cơm”.
-Ôi, cơ man nào là những món ăn! Bà Doris, chúng tôi ngồi ở đâu?
-Cử tọa Á châu hở? Các ngài Lý
giẫm lên đôi Lý
dép cụ Nhật hoàng ảnh 3 hoặc Lý Gesetz xéo lên đôi Lý Gesetz bỏ ngỏ cụ Thái thượng Lão quân Hồ nam Trung hoa bức họa ảnh 4. Và… có thể xỏ vào đôi Sandale nhân vật Asin châu Á trong bức họa Hy lạp Asiatisch với cha Sam ảnh 5.

-Còn chúng tôi, thưa bà Doris?
-Cử tọa Âu châu ư?… Chúng ta cùng xem bức họa Hy lạp ảnh 6. Cái vẩy tên(cung tên) vệ
khí VEDA mở hướng sang bên trái. Quốc gia Hy lạp khởi nguyên cho các vùng đất Âu châu. (Bạn đọc có thể thấy họa tiết chữ Nguyên màu Giefarbe Trăm tuổi góc trái trên bức họa ảnh 7 quốc gia này. Hai chân, chân phải đi Lý Gesetz ủng, giày. Tiếp lên là chữ
nhất 1 vạch ngang cấu thành chữ Ngột
cao ngây ngất bằng đầu. Tiếp lên nữa cũng 1 nét chữ
nhất, toàn bộ hoạ tiết là chữ Nguyên
to lớn, khởi)… Các ngài cứ xỏ chân vào đôi Stiefel giày ống hoặc chân trần những hình nhân bên phải bức hoạ Hy lạp ảnh 7 ấy.


-Vậy còn những hình nhân bên trái bức hoạ, họ đi nửa giầy nửa dép là ai?
-Chúng ta đang truy tìm dấu chân của Triết gia Lão Tử, hình nhân to lớn cưỡi trâu ảnh 8. Ông thuộc tộc
(họ, loài) đi Lý
dép, loài có vẩy… ở bức hoạ Ai cập ảnh 9. Ngài thấy trong cùng 1 quốc gia có những 2. Hai hình nhân đi dép tay cầm sừng dê bên phải bức hoạ là Blutsverwandte Nội tộc(loài trong). Hai hình nhân chân trần tay cầm cái
Kha(2)(búa, rìu), vịn vào thành(tường đất) bên trái bức hoạ là Verwandte Ngoại tộc(loài bên ngoài) Ai cập.

-Căn cứ vào đâu bà cho rằng là 2 hình nhân cầm sừng dê Loài Nội tộc Ai cập?
-Tôi căn cứ vào câu: “…Lượn gió lốc, xoáy sừng dê” trong Tiêu dao du Nam hoa kinh của Trang Tử hình 1 và phương vị chi Mùi(con dê) trong 12 địa chi thuyết Can chi hình 2.

Chú thích:
(1) Duy thực: Chiêm nghiệm thực chất Experimentell Thực nghiệm là duy nhất đúng. Phái này chống lại phái Duy danh. Duy danh Phil Nominalismus: Căn cứ vào tên gọi là duy nhất đúng. Cả 2 phái Duy thực và Duy danh thuộc trường phái Triết học Tây âu thời Trung cổ.
(2) Kha là cái cán búa rìu. Bạn đọc sẽ thấy nó trong danh gọi TutanKhamun Pharaon Ai cập ảnh dưới và vụ ám sát hụt Tần Thủy Hoàng rồi tự tử của nhân vật Kinh
Kha
thời Đông chu Liệt quốc.

Đổng Thiên Vương trang 62
-Ôi Doris thật tuyệt vời! Còn lại chúng tôi, 3 cử tọa người China, Arbres, Indonesia bà Duy thực cho đứng ở đâu?
-Quắc Timua, ngài nhỏ con ngồi vào vị hình nhân “lụ khụ như mụ già” bên phải bức họa Indo Á châu ảnh 1 ấy. Nhớ thò bàn chân trái không giày dép ra giao chi với tay phải, đó là Java cụ tổ của các ngài đấy.
-Indonesia chúng tôi cũng là Veland nước Vệ ư?
–Ja’va vâng, va ve vệ
khí, nói tới khí là nói tới VEDA. Lịch sử hình thành Quốc gia Indonesia do 2 công
ty
Đông Ấn và Tây Ấn. Mời các ngài ngồi xuống.
-Ngồi bệt xuống sàn bếp lát những viên gạch vuông hình chữ
khẩu là cái phạn
hàm miệng ư, tại sao vậy?
-Vâng, Kinh dịch nói “tượng đất vuông”. Hình vuông khi 4 cạnh bằng nhau nghĩa đất ở đó vẫn còn yên, nằm. Nhưng khi 2 cạnh bên dài lên trên như chữ khẩu
dựng đứng nghĩa đất ở đó đã vùng dậy trước khi có 1 chủng Rasse loài từ nơi khác đến.
-Chủng người nào đến với chúng tôi thưa bà Doris? Ngài Quắc hỏi.
-Hãy nhìn sang trái. Hình nhân 1 ống kính nheo mắt như các Pharaon Ai cập, cái mũi
tỵ, ông thủy tổ là Hán Tibe(1) đã từng đến Java các ngài.
-Ký hiệu âm nhạc dấu lặng đen
giữa tai phải hình nhân Indo Á châu ý gì thưa bà Doris?
-“Mỗi người mỗi phách lối”. Quắc Timua(1), ngài hãy bịt tai phải đừng nghe cái nhà ông Bahoa kia nói gì.
-Hình nhân bên trái bức họa có cái mũi dài, giữa phình to như hạt lạc(đậu khấu) dưới đó là nụ cười Kungfus của sự hỗn độn, gượng gạo phô diễn 3 cái răng cửa hàm trên, ông ấy là ai vậy?
– Hán Tibét đấy. Cũng thò bàn chân phải không giày dép ra, đưa ngón tay trỏ(ngón thứ) lên ông ấy nói rằng: Giống Tây tạng là số 1, vốn là loài man
di xuất từ xứ Trùng, tơ tằm nhện. Nhưng dưới ống kính ông Thủy tổ Tibe(1), Ngài cũng là “áo vải chân trần” bởi Ti’be’t đích thị là âm vật của con bê.
-Hán Tibét(1) khiêm tốn tự nhận mình là âm bản của ông Thủy tổ
Tỵ, tôi đâu thấy ông Ba hoa? Ngài Quắc hỏi.
-Chúng ta cùng xem lại bức họa Nhật bản ảnh 2 – Bà Doris – Hình nhân nguyên sắc đen, áo đỏ với 3 bông hoa biến sắc ngồi lên cái xương chậu Con Ma cúi mặt dường như đang phóng xuống bờ Bắc sông Phẫn
là ông Ba hoa. Dòng nước vàng Thủy
hoàng
(2) chảy qua Tây tạng China, tiếp sau lưng người Hàn Triều tiên, dựng sóng thần xoáy từ phải sang trái theo chiều Ngũ hành tương khắc, sau đó rắc xuống chân người Nhật Phù tang(hình nhân đứng, tay cầm tờ lịch hình chữ Nhật
mặt trời). Ngài nhìn phía xa nền trời tối đen. Khi sông Hy chảy sang Đông Chu đã có 2 vùng đất khởi. Đó là Quốc gia Môn Myama(họa tiết hình chữ khẩu bé bên trái) và Quốc gia Java Indonesia(hình chữ khẩu lớn ở giữa).
Chú thích:
(1)Danh gọi: Tibe cho Arbres, Tibét cho China, Timua cho Indonesia của History Sử ký.
(2)Theo Tần Thủy Hoàng bản ký, Tư Mã Thiên sử ký.

(1b) Số thứ tự của 10 can (can chi): Giáp số 1, ất số 2, bính số 3, đinh số 4, mậu số 5, kỷ số 6, canh số 7, tân số 8, nhâm số 9, quý số 10 được xếp theo từng cặp 1 số sinh 1 số thành của Ngũ hành nên tuổi người đứng ở can giáp hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can kỷ (số 1 hợp số 6, giáp hợp kỷ).Tuổi người đứng ở can ất hợp với năm, tháng, ngày, giờ và với tuổi người có hàng can canh (số 2 hợp số 7, ất hợp canh).Tương tự bính hợp tân (số 3 và số 8), đinh hợp nhâm (số 4 và số 9), mậu hợp quý (số 5 và số 10).
Phù Đổng Thiên Vương trang 63
Phù Đổng Thiên Vương trang 63
Bà Doris định tiếp tục tham luận về chủ nhân dòng nước vàng Thủy hoàng phương Tây Bắc bên trái bức họa thì có tiếng gọi: “Bà Duy Thực ơi! Đến giờ chưa?” Đưa mắt về phía chủ tọa, bà Doris hỏi: Quai senh AnatSchlüsselbein ảnh 1 đã có cái ăn chưa. Ông Poebens lắc đầu. -Thưa các ngài – Bà Doris tiếp tục – Chúng ta trở lại bức họa Indo Á châu ảnh 2 giải quyết những vấn đề tồn lại. -Ôi mỹ miều thay các danh gọi – Ngoài Quắc phụ họa. – Bà Doris, Hán Tây vực (tên văn chương Ai cập) là Tibe, Hán Tây tạng là Tibét, còn Timua Quắc tôi là gì?
-Quắc là
nước Quắc tức nước Ngu
(vui) của ngài. Còn cái âm… Bà Doris nói nhỏ, ngài Quắc như không nghe thấy mà phải nhắc lại: -Nói to thưa bà Doris! -Ngu vui thích tức khoái lạc, nước Ngu các ngài là xứ Hỷ lạc. Còn Ti’mu’a là cái… âm hộ loại a của mụ(mẹ) – Mấy tiếng cuối cùng bà Doris cũng nói nhỏ, ngài Quắc vẫn không nghe thấy: -Bà nói to nữa đi, như tai trái tôi có vấn đề! -Timua, tai trái của ngài cũng đã bị dấu lặng đen
âm nhạc miễn hết nhịp phách từ lâu. -Hồi nào vậy thưa bà Doris? Ngài Quắc. -Chương II Tề vật luận Nam hoa kinh Trang Tử: Nghiêu hỏi Thuấn “Ta muốn đánh Tôn khoái Tư ngao, ngảnh mặt sang Nam mà không thấy khoan khoái”. -Nghiêu, Thuấn là ai? -Thuấn là vua đời nhà Ngu. Thuấn còn 1 nghĩa nữa là 1 cái chớp
mắt. Nghiêu là 1 vị vua
thời thượng cổ. Nghiêu còn là Bàng giải Cua tức nghêu, ngao
con Cua kềnh tượng vật quẻ Li lửa Hậu thiên bát quái Thiệu Khang Tiết hình 1. -Thế Tôn khoái Tư ngao, danh gọi gì mà ngao ngán vậy? -Tôn khoái là con khỉ lạc Java. Tư ngao là con hến
tượng động vật quẻ Li lửa Hậu thiên bát quái Mai hoa dịch Thiệu Khang Tiết hình 2. Lần này bà Doris nói rất to nhưng ngài Quắc không nghe thấy mà phải gào lên : -Ôi, cái tai âm nhạc của tôi lạc đâu mất rồi ! -Quắc Timua – Bà Doris nghiêm giọng – Tai trái ngài đã bị cái ông Lý(hình nhân không rõ dép hay chân trần trên bức họa) cắt mang về theo quy định của… -Ai! Ai mà dám cắt cái tai âm nhạc của tôi ? -Là ai ư? Ngài chim
thước(chim khách) tức vua Nghiêu cua kềnh(hình nhân mũi to, độc nhãn như các Pharaon nheo mắt xứ Ai
cát bụi trên bức họa ấy) Ông ta đã không ngần ngại trong chớp mắt diệt Tôn khoái Java rồi ru rê Quắc ngài sang đánh Hến Tư ngao nước Yên. -Thời nào thế thưa bà? -Hồi 8 Lĩnh nam chích quái : “Thời mà phía Tây nam nước ta có nước Khỉ” tức đảo Java hình 2 và “Mượn đường diệt Quắc” của vua Nghiêu thời Đông chu Liệt quốc hình 3.
-Có chứng nhân không thưa bà? -Giống người Greisrüstig Quắc thước cùng thành ngữ: “Lụ khụ như cụ Java”, “vuốt mặt nể mũi”, “chột làm vua xứ mù”… và nghêu ngao câu hát Nam Yên: “Con cua 8 cẳng 2 càng, chẳng đi mà lại bò ngang cả ngày ”…là văn chứng!
Phù Đổng Thiên Vương trang 64
Cuộc vấn đáp giữa bà Doris và ngài Quắc Timua sôi nổi trong không khí chờ cơm nổi sôi. Cử tọa nhìn xuống cái bếp lò của người Nhật ảnh 1, nhìn lên cái chảo bếp của người Hy lạp ảnh 2. Họ thở dài vì như tham luận của bà Doris vẫn tiếp tục. -Chị Doris, lấy cho em 1 điếu trong bao thuốc lá bức họa Indo Á châu ảnh 3 – có tiếng của bà Nothomb. -Không phải bao thuốc lá đâu, đó là cái hòm phiếu bầu cử. Em xem như ngón trỏ của 1 bàn tay chỉ ngài Quắc Timua là nhân vật chính bức họa. -Thế lấy cho em 3 con cá là mũ mão trên đầu 3 ông Ti – Bà Nothomb. -Không phải cá: ngư đâu, đó là cá: cái, quả tượng cho 3 vùng đất Arbres, Indonesia, China cái quả phụ lân cận Ấn độ – Bà Doris. Bà Doris ngừng lời vì nghe 2 tiếng “bụp cắc” – “Âm gì như trống” – Bà lẩm bẩm.
-Đúng là trống chủ tọa Poebens, biết chúng ta chờ cơm nên ông ấy đùa đấy thôi – Bà Nothomb – Chị rán cho em con cá vàng trên bức họa Indonesia ảnh 4, em đói bụng rồi. -Không phải cá thường đâu mà là Lý
ngư, cá số 6 thành Thủy Kaisser Hoàng đế đấy. Nói đến đó bà Doris cũng phải ngừng lời vì 2 tiếng “cắc bụp” – như là tiếng trống – bà lẩm bẩm – vì “cắc” tiếng gõ vào tang … Nhưng… không phải … trống thì “tùng” mà đây là “bụp” như âm của 5 ngón tay vỗ lên mặt trống da. – Trống da hay trống thịt kệ nó. Thôi, chị cho em thịt 3 con ngựa kia – Bà Nothomb chỉ vào bức họa China ảnh 5 – Lấy cà chúng xào với Câu kỷ tử làm món bổ dương tráng vật phục hồi sinh khí cho hội thảo. – Không được đâu Nothomb. “Người ngựa ngựa người”, chúng tượng cho 3 giống người 3 vùng đất. Em xem, con màu phân người đứng riêng một mình như con trâu đực Lỗ Đặc La bên phải bức họa của Ai cập, con đen bên trái 4 chân giao chi: vật chân trái sang phải của China, con trắng 3 chân cũng vật chân trái sang phải ở giữa của Ấn độ.
Bà Nothomb cụt hứng – “Món ăn có nguy cơ hỏng … nhưng xôi hỏng còn bỏng” – bà nghĩ đến thế nên cố đấm – Chị không cho thì em tự cho mình vậy. Nói đoạn bà Nothomb giật con dao ăn trên tay nhà văn Touxen chạy bổ đến bức họa China giơ lên. Bà đang loay hoay chọn đấm hay dao cho 2 múi bưởi đào trên ngực 3 con ngựa thì 1 câu ca văng vẳng : “cho anh 1 chút không mòn” tiếp theo là tiếng gọi giật giọng: – Nothomb, cùng giới không cưỡi lộn ngựa nhau! Họ là nhân môn
ngựa mòn, ngựa của kỵ sỹ chúng anh. Cử tọa ngảnh mặt sang nương thấy chủ tọa Poebens ngồi ôm cái trọng cơm ảnh 6. Sau lưng ông là dàn đồng ca xứ Hồ tôn. Trước mặt ông là vũ nam nước Quắc ôm cái trọng cơm chất liệu sắt.
Vỗ bàn tay lên mặt cái trọng cơm = hàm sống = quai senh = hậu phạn = AnatSchlüsselbein, ông cất tiếng: Nào, vũ điệu “cái ăn là trọng” xin mời! Dàn đồng ca nước Khỉ vang lên: -Cắc bụp cắc bụp xòa, -Ba quân người Pháp bắt gà bắt heo. -Cắc bụp cắc bụp xèo, -Ba quân người Pháp bắt heo bắt gà. Cử tọa hội thảo Pharaon ngồi xuống.
Phù Đổng Thiên Vương trang 65
-Thưa các ngài – Chủ tọa Poebens – Pháp gia Lão tử nói: “Có thực mới vực được đạo”. Tôi nghĩ đạo cũng là
, đức cũng là
nên đạo ông Thầy Lehrer đây cũng là đức của giới học Lehrer kia. Muốn hành đạo dạy và học được thì phải có thực ăn. Cơm là trọng vì 1 sinh thể sẽ không tồn tại nếu không có ăn. Đã đến phạn cơm, song nhân danh tôi và bà Doris mời các ngài 1 bữa điểm tâm. -Thưa quý vị – Bà Duy thực Doris – Nhà thần kinh học Frerd nói: Tâm điểm của con người là cái dạ dày trong bụng. Các chứng tốt xấu sức khỏe đều từ Bao
tử
(cái bao khởi phát), Ma’gen(người mẹ truyền đi). Muốn có sức khỏe tốt phải giữ kín cái dạ dày cổ hũ ảnh 1 này. Đành rằng cái ăn là trọng nhưng chúng ta phải biết ăn cái gì và như thế nào. Tôi xin giới thiệu 1 món ăn chắc chắn sẽ làm quý vị hài lòng, đây là cái dạ dày heo.
Bà Doris giơ lên 1 cái dạ dày lợn trong đó đã nhét đầy những nhân sâm, nấm hương, hạt sen với cả tiêu, hành… đang hơi khói – Nào, xin mời quý vị! Cử tọa nhận khẩu phần. Ông Poebens và bà Doris nhìn mọi người ăn, họ mỉm cười quay người sang 2 cử tọa người Lỗ: -Nothomb, cô không thích món này ư? – Ông Poebens hỏi. -Không, thưa ông. – Bà Nothomb nhăn mặt che mũi chỉ xuống cái bụng Phật Di lạc của ông Touxen – Tôi phải giữ eo lưng. -Ngài Touxen cũng không thích món này ư? – Bà Doris hỏi. -Không, thưa bà. – Ông Touxen cũng nhăn mặt che mũi chỉ xuống cái bụng thắt đáy lưng ong của bà Nothomb – Eo lưng tôi không giữ. Cử tọa nhìn 2 cử tọa người Lỗ, có tiếng lèo xèo. -Tiếng lèo xèo gì đấy ngài Quắc Timua – Ông Poebens hỏi. -Ba người của Pháp đạo Buddhistishe Lehre đang rán thịt lợn gà bên nương đấy – Ngài Quắc trả lời. -Thưa quý vị – Bà Doris – Trong dạ dày có táo khí(khí khô) và keo dính kết. Để giữ gìn chúng, tôi xin giới thiệu tiếp món ăn thứ 2 – Bà Doris giơ lên 1 chiếc bánh trưng làm từ gạo nếp rán cháy vàng và 1 chén Suppe chế từ xương thịt của con Sam còn nóng hổi. Cử tọa nhận khẩu phần và thưởng thức món mới. Bà Doris và ông Poebens nhìn cử tọa ăn, họ mỉm cười và quay người sang 2 cử tọa người Lỗ. -Ngài Touxen không thích món này – Bà Doris hỏi. -Vâng, thưa bà! – Tôi thích ăn cơm lòn, bà cho tôi 1 bát thêm 1 bát canh rau Sam _ Bà Nothomb đưa đến cho ông Touxen món ăn theo yêu cầu: Mời ngài! -Cô Nothomb cũng không thích món này? Ông Poebens hỏi. -Vâng, thưa ông! Khẩu vị của tôi như ông Touxen, ông cho chúng tôi thêm 2 bát cà muối xổi. Ông Poebens nhếch mép cười đưa đến cho bà Nothomb món ăn theo yêu cầu. Ông nói: Gạo tẽ không tốt nhất là lớp cám, chúng tẩy keo dính kết vốn có trong dạ dày. Rau Sam và cà muối xổi rất độc gây chứng lỏng lỵ, các Ngài dùng ít thôi. -Thưa quý vị – Chủ tọa Poebens – Trong tế bào động vật có Beizen. Các loại chất độc luôn hiện hữu ở những thức còn tươi sống, chúng là tác nhân gây rối loạn hệ thần kinh của con người gốc khởi phát ở dạ dày. Tiếp theo tôi giới thiệu món Cà với Cá. Cử tọa đứng lên nhận phần ăn: Mỗi người 1 khúc cá biển muối đã ngào qua đường vàng và 1 quả cà sọc dừa muối mặn da thịt đã thâm đen. Chủ tọa Poebens và bà Doris nhìn cử tọa của mình, họ mỉm cười mãn nguyện và quay sang 2 cử tọa người Lỗ thì ngạc nhiên vì bà Nothomb và ông Touxen không ăn mà bóp nặn cơm thành những cục nhỏ: -Chúng ta là người Lỗ, ăn cà kiểu đáo lỗ – Ông Touxen. -Là người xứ gạo lòn, ăn cơm kiểu gạo lòn – Bà Nothomb. -Bà há miệng tôi tung, nếu đớp được húp canh. Rồi, soàm. -Ông há miệng tôi tung, nếu đớp được húp canh. Rồi, soạp. Cử tọa nhìn bà Nothomb và ông Touxen, có tiếng lào xào. -Ông Heinrich, tiếng lào xào gì vậy? – Ông Poebens hỏi. -Ba người của Pháp đạo Buddhistische Lehre đang xào thịt gà lợn bên nhà Đường đấy – Ông Heinrich trả lời. -Ba người kia cùng tư tưởng “trọng cơm” với chúng ta, ngài Quắc mời họ vào ăn cho vui! -Tôi đã có lời nhưng ngài chỉ huy bộ binh chột mắt giấu nắm đấm trong tay áo nói rằng: Biệt danh của ta là Spi- chuyên do thám để tẫn
gây binh lửa. Chúng ta đang trên đường đánh Hến Tư ngao nước Yên. -Cách đây không lâu – Ông Heinrich – Tôi đã gặp người chột mắt này trong cuộc chiến tự vệ của người Egestern thành III Troy. Ông ta cắm tai phải của mình làm cờ lên vùng đất Thổ Nhĩ Kì, sau đó “ném đá giấu tai” cho bộ binh thôn tính nước
Ba(Hy lạp). -Như vậy quân người Pháp có thể ném đá qua đây. Tôi giao nhiệm vụ cho ông Heinrich và ngài Quắc phải tóm gọn những viên, cục và những đoạn, khúc bất cứ gì bay qua bay lại trong phòng. Thưa các ngài – chủ tọa Poebens tiếp tục:
Phù Đổng Thiên Vương trang 66
-Thưa các ngài! Đạo Lão Daoismus nói: Hành Hỏa quan trọng nhất trong 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Hỏa tức khí(như “Hỏa thành thì biến thành dạng khí mà thượng vân”_Chu Hy). Khuôn mặt màu lửa và họa tiết V viết tắt từ chữ VEDA vệ khí nơi cổ áo Lão Tử ảnh 1 là ví dụ.
Một sinh thể luôn hiện hữu 2 mặt Âm Dương 1 thái cực(như “nhân nhân hiện hữu nhất thái cực…”_Chu Hy). Âm Dương trong thái cực Người đó là khí và huyết. Khí vô hình thuộc Dương +, huyết hữu hình thuộc Âm -. Sẽ không có hình người nếu vô Dương khí. Ngược lại, con người sẽ héo mòn cho tới da bọc xương rồi tiêu tan nếu vô Âm huyết. Khí có năng lực sinh ra Thủy huyết (như “táo năng sinh thấp, ẩm”_Lão Tử), đồng thời hướng đạo
đường đi nước bước cho huyết đến nuôi các tế bào trong cơ thể. Hỏa khí là cốt lõi của con người nên Trọng cơm, Hậu phạn, AnatSchlüsselbein chỉ là hậu, Anát cửa sau để có huyết (ăn sinh huyết) đối trọng với Hỏa khí. Chúng ta nhận diện mặt cái Trọng cơm (tay phải) phương Đông nam đối trọng với con ngỗng vàng (tay trái) phương Tây nam Hỏa khí nước Liệt trong bức họa quẻ Khôn Trời trước Ấn độ ảnh 2.
Mời các ngài nhìn 2 đĩa cân Âm Dương khí huyết tượng cho 3 dạng sức khỏe con người.
-Thưa quý vị – Bà Doris_2 mặt khí và huyết thì Khí quyết định hoàn toàn sức khỏe con người. Trong chúng ta có ai đó dạng người như hình 2. Triệu chứng: đau nửa đầu bên phải, đêm nặng ngày nhẹ, hãy dùng phép bổ Khí với bài Tứ quân tử lấy nhân sâm làm chủ vị với giảm ăn kết hợp. Ngược lại, dạng người như hình 3. Triệu chứng: đau nửa đầu bên trái, đêm nhẹ ngày nặng, hãy dùng phép bổ huyết với bài Tứ vật lấy thục địa làm chủ vị với tăng ăn kết hợp. Hai bài thần dược bổ Âm Dương khí huyết trên của Lão Tử pháp gia nước
Tần. Lưu ý thêm với quý vị: Bệnh dạng 2 rất nguy hiểm, Y học hiện đại phải bó tay khi chưa tìm đến vị Nhân sâm của Y học cổ truyền.
Phù Đổng Thiên Vương trang 67
Cử tọa hội thảo Pharaon vừa lắng nghe tham luận về Cái Ăn của chủ tọa Poebens và bà Doris vừa thưởng thức kiểu chơi ăn của bà Nothomb và ông Touxen. Họ phân vân không hiểu 2 cử tọa người Lỗ này đến hội thảo với tư cách nhà khoa học hay nghệ sỹ mà … kẻ tung cơm người đớp cà qua lại tuyệt chính xác. Tiếng lúp búp cắn cà, soàm soạp húp canh với tiếng dao thìa lạch cạch leng keng náo nức thêm bầu không khí chiều tà xứ hỷ lạc. Có tiếng 1 cử tọa: “Thưa các ngài, chúng ta cần tổ chức nhiều bữa điểm tâm đậm đà bản sắc dân tộc xứ chó mõm dài như thế này”. Ông Poebens che miệng ghé vào tai Quắc Timua: -Ngài đã cho cay vào giữa những cái cá ấy chưa? -Thưa rồi, tôi đảm bảo cay không thua gì ớt Paprika nhà ông – Ngài Quắc. Bà Doris che miệng ghé vào tai ông Heinrich: -Những cái cà ấy cậu chỉ nên luộc qua thôi, đừng hầm lâu bở thịt ăn mất khoái. -Thưa rồi, tôi đảm bảo dai không thua gì cao su Missland nhà chị – Ông Heinrich. Chủ tọa Poebens trở lại với hội thảo: -Thưa các ngài! Dưỡng sinh có câu “bảo toàn Tân dịch”. Các loại dịch dãi trong người như mồ hôi, tinh khí, nước bọt, nước mắt mũi, nước trong đại tiểu tiện… có nguồn gốc từ nước ta ăn uống hàng ngày. Thứ nước này vào dạ dày qua sự kiểm chế của Thần kinh khởi tại và Vị
khí
(khí khô trong bao tử) rồi thấm qua thành vào Ngũ tạng Lục phủ. Nước này rất quí (trừ nước tiểu và khí hư của đàn bà) gọi là Tân
dịch
(bến sông của dịch dãi). Tân dịch lại bốc hơi thấm vào tất cả ngõ ngách cơ thể mà thành các loại dịch dãi như đã nói. Bảo toàn Tân dịch là hạn chế tối đa không để Tân dịch thoát ra ngoài cơ thể thuộc Phép dưỡng sinh của Đạo Lão. Điều này được chứng minh ở 1 câu ca: “Gió đưa cây cải về Trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay”. Rau cải thông đại tiểu tiện tức thất thoát Tân dịch. Thất thoát Tân dịch thì con người sẽ không còn mà “về Trời”(chầu Trời). Rau răm (nhất là rau răm tía) vị đắng cay tính ấm có tác dụng “Cầm giữ tinh khí”. Cầm giữ được tinh khí thì con người sẽ còn mà “ở lại” với dương gian. Điều này còn có nghĩa trong chúng ta ai dùng được các thức cay, đắng(chát), ấm(nóng), sắc màu tím tía người đó sẽ có sức khỏe tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ cao.
Phù Đổng Thiên Vương trang 68
Thưa quý vị – Bà Doris tiếp tục tham luận – Dưỡng sinh cũng có câu: “Giữ gìn Tỳ Vị”. Ngũ tạng Lục phủ của con người thì Tỳ(lá lách) và Vị(dạ dày) thuộc Thổ(trong 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Giữ gìn Tỳ Vị tức bồi Thổ, bồi bổ lá lách và dạ dày thuộc phương pháp nuôi dưỡng sự sống của Đạo Lão. Tiếp theo tôi xin giới thiệu món “Mộc tồn” là cây còn, cây còn hoán từ ra “con cầy” trong Tiêu dao du Nam hoa kinh của Trang Tử. Thịt chó đen bổ thận, thịt chó trắng bổ phổi…thịt chó vàng bổ Tỳ Vị – Bà Doris chỉ vào 2 con cầy vàng tuyền loại mõm ngắn 1 đực 1 cái nhốt trong rọ. Thưa quý vị! Phép đồ tể ngày xưa, các cầy không bị cắt tiết ngay mà được chết dìm trong ao hồ để khử mùi hôi khét giống loại. Sau đó bọc lá chuối Tây hạ Thổ, chôn xuống đất vàng(màu vàng nhập Tỳ Vị) trong 2 canh giờ nhằm tăng cường tính Thổ cho thịt. Tiếp đến các cầy được cạo lông rồi thui lửa rơm vàng cho tới thơm lừng(mùi thơm nhập Tỳ Vị), mà căng da, giương mắt, nhăn răng. Bây giờ mới cắt cổ lấy huyết. Huyết cầy ta lúc này không còn dạng lỏng, sắc đỏ tươi nữa mà sền sệt như keo dầu màu nâu thẫm. Ăn huyết lúc này đọng Vị(yên ở dạ dày mà không tháo ngay xuống đại tràng) rất tốt. Phần đồ tể còn lại là “mổ bụng moi gan” lấy lá lách, dạ dày và huyết cấn.
Thưa quý vị, tiếp theo là chế biến: 1.Thịt các cầy được chặt ngang xương từng khúc vừa miệng. 2.Lá quýt(mùi thơm, vị đắng ngừa chứng lị do Tỳ Vị uất nhiệt). 3.Lá mơ lông tía(mùi hôi, vị đắng ngừa chứng lị do Tỳ Vị uất nhiệt). 4.Sả tía đập dập(mùi thơm vị cay nhập Tỳ Vị). 5.Riềng tía thái lát(mùi thơm, vị cay, tính mát nhập Tỳ Vị). 6.Mật mía đậm đặc(vị ngọt, mát lành nhập Tỳ Vị, điều hòa Tỳ Vị). 7.Mắm tôm sắc tía đậm đặc(vị đạm được tôi luyện trong nước thánh, nước biển) bền vững như thân thể Asin Á châu. Toàn bộ hỗn hợp 7 thứ trên nhào bóp kỹ cho vào nồi đất nung non chờ đợi. Thưa quý vị! Còn đây là cá và cà các cầy được xào với quả Câu kỷ là 2 món tráng vật bổ cả âm với dương. Và đây nữa là những dạ dày tọng đầy lá lách băm nhỏ lẫn huyết cùng nhân sâm(bổ khí Vị), bạch truật(bổ Tỳ), mộc nhĩ an thần(yên thần kinh khởi tại), hạt sen an thần(yên thần kinh khởi tại), đỗ xanh(trừ nhiệt, giải độc ở Vị)…Chúng được hấp trên nồi thịt cùng hầm trong lửa rơm liu riu 2 canh giờ. Tôi xin đảm bảo món Mộc tồn hôm nay chiểu theo phép ăn thịt chó của Nghiêu Thuấn ngày xưa. Nào, xin mời quý vị lên nhận phần ăn!
Phù Đổng Thiên Vương trang 69
Cử tọa nôn nóng xếp hàng bởi có người nói rằng bà Doris sắp sửa vượt sông Nin Hội họa Hy lạp ảnh 1 về lấy thêm chó mõm ngắn mà ở đây không có. Khác với trước, lần này 2 cử tọa người Lỗ không để mọi người mời mọc:
-Ôi, tuyệt vời chủ tọa Poebens và món Magen cùng cà chó! -Thật diệu kỳ bà Duy thực Doris và món bao tử với cá cầy! -Ông Poebens, dạ dày chúng tôi ở đâu – Bà Nothomb và ông Touxen hỏi? Bà Doris chỉ vào bụng 2 người: “Những cái gì trong kia”. -Vậy đâu của chúng tôi cà và cá – Bà Nothomb và ông Touxen hỏi? Ông Poebens chỉ vào bụng 2 người: “Dưới kia là những cái gì thế”. Bà Nothomb và ông Touxen nhìn nhau che miệng giấu nụ cười tinh nghịch. -Ho gì mà lục khục lặc khặc thế ngài Quắc và ông Heinrich – Bà Doris hỏi. -Thưa, chúng tôi ngứa cái lỗ tai – Ông Heinrich và ngài Quắc trả lời. -Thế thì lấy cái gì đó mà xoi cho nó sướng – Bà Nothomb và ông Touxen vừa nói vừa nhận phần ăn nghe bà Doris khuyến cáo: “Thịt chó chua nóng, hàm lượng Protein rất cao, ăn nhiều sẽ phát dục “hết gạo chạy rông”(1) như “chái gió trở trời”. Ông bà cần gì nữa không? -Các ngài cho chúng tôi thêm ít quả dâu Tây – Ông Touxen và bà Nothomb trả lời. Ông Poebens và bà Doris đi lấy món ăn theo yêu cầu cho 2 người. Họ vừa khuất sau cánh cửa thì: -Chúng ta thuộc thần Hiểm, ăn cà theo kiểu hiểm!(2) -Chúng ta thuộc thần Ngưu, ăn cà theo kiểu ngưu! Bà Nothomb và ông Touxen vừa tung cà cho nhau vừa hô vang hiệu ăn. “Một hai nào, búp bụp” tiếng cà pháo muối xổi nổ giòn. Hai nửa ngoài răng bà Nothomb và ông Touxen bắn vào mặt ông Heinrich và ngài Quắc đứng cạnh. Ngỡ ruồi nhặng họ giang tay vả vào má mình 2 cái: -Ông bà làm gì thế – Ngài Quắc và ông Heinrich hỏi. -Mời các ngài dùng món hạt cà rắc ảnh 2 – Bà Nothomb và ông Touxen.
Hiểu phải hoán từ, ông Heinrich và ngài Quắc chống chế: “Chúng tôi đâu có lòi ra mà là người Hy lạp ảnh 3 đấy chứ” rồi chạy vào phòng rửa mặt. “Xòa”, tiếng nước chảy.
Ở trong bếp ông Poebens hỏi vọng ra: -Tiếng gì lòa xòa thế các ngài? -Ba quân người Pháp ảnh 4 xứ Sao Hôm thành Troy, E’ger nốt nhạc E Mi thứ III đang đi bè nghịch nước trên biển Bắc đấy – Bà Nothomb và ông Touxen trả lời. Ông Poebens và bà Doris trong bếp trở lại phòng ăn với 1 giỏ nho và 2 giỏ dâu Tây tẩm đường Hội họa Ai cập ảnh 5 vừa lúc ngài Quắc và ông Heinrich trong phòng rửa mặt bước ra.
-Các ngài làm gì trong đó thế – Ông Poebens hỏi. -Đúng như ông dự đoán, quân người Pháp đã đá cà vào mặt chúng tôi – Ngài Quắc và ông Heinrich trả lời.
Chú thích: (1) Sỹ, nông, công, thương là 1 thiên Phong Thư bàn về phong
Tục của Pháp Đạo. Học(sỹ) xếp hàng đầu, nghề cày(nông nghiệp) thứ 2, nghề thợ(công nghiệp) thứ 3 và buôn bán(thương nghiệp) cuối cùng. (2) Bạn đọc xem Con Cầy “vồ Đông nhảy Tây” trong Tiêu dao du Nam hoa kinh Trang Tử và chó mõm dài trong “cáo 9 đuôi âm mưu giấu Hiểm” hồi 7 Lĩnh nam chích quái Vũ Quỳnh sẽ thấy Thần Hiểm Ai cập đã vồ xuống Đông chu.
Phù Đổng Thiên Vương trang 70
– Lại còn thế nữa kia ôi Nghiêu cua càng _ Chủ tọa Poebens _ Ngài Quắc này, tôi đã khẩn nhờ ngài mời bằng được 3 nhà pháp đạo sang ăn thịt chó nhưng cái lưỡi của ngài chưa được dẻo để vị K’ai’sser (K viết tắt chữ kha
cán rìu, Ai
bụi, gió thổi, cát bay Ai cập) phải liếm môi. – Thưa ông Poebens, quả tình tôi không chỉ dẻo mỏ thậm chí còn cứng mồm với ông ta rằng: “Nghiêu cua càng, chủ tọa Poebens ta người gốc xứ cha Sam gai góc. Ngài hãy coi chừng cái bụng cá cóc và cặp sừng trâu trên đầu”(1) _ Ngài Quắc.
– Ông ấy bảo sao _ Chủ tọa Poebens hỏi? – Ông ấy cười hóm, đảo mắt trái sang Nam khen tôi ngu và dẫn ngạn ngữ nước
Ngu tôi: “Chưa ăn cha rìu con rạ, ăn rồi cha ngả con nghiêng”. Tị
cái mũi, Ông Thủy tổ ta ứng quẻ kiền Trời trùng quái chính Nam hình 1, ta sang Yên dạy Hến Tư ngao câu ca: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi, đường trường ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng”. Ngài xem bụng 2 cha con sò và ốc, họ đã vô phép liếm trước ta rồi _ Ngài Quắc_Nói xong ông ta rướn người sang Nam, sóng nước vịnh Belgan quẫy mạnh (ảnh 1 hội họa Indonesia). – Ông ta đi à, sao ngài không giữ lại _ Chủ tọa Poebens? – Thưa, tôi có giữ ông ta lại và hỏi rằng: “Vua Nghiêu kia, người Indo Á châu chúng ta gọi ngài là Nghiêu cua kềnh, nhưng người nước Ba Hy lạp gọi Nghiêu
là cái Áo gươm cớ gì? _ Ngài Quắc. – Ông ấy bảo sao _ Chủ tọa Poebens hỏi?
– Chỉ vào bức họa Thiên lý câu, ngựa 2 năm tuổi nghìn dặm ảnh 2 Hội họa Ai cập ông ta nói: “Ngài hãy xem họa tiết dấu x trước vị Pharaon kia, nét bên trái là cái giỏ đựng tên(cung tên) làm chữ
Phiệt, triệt. Nét bên phải là cái Nghiêu Áo gươm làm chữ
phật, phất. Hai nét giao nhau thành chữ Nghệ
cai trị, tài giỏi. Ngựa Thiên lý của ta đang trên đường sang Đông Chu trị Thiên hạ” _ Ngài Quắc. – Ngài Quắc, các Pharaon Ai cập lấy cái Áo gươm Nghiêu tượng cho vùng đất của mình _ Chủ tọa Poebens _ Tại sao vậy? – Người Indo chúng tôi thờ thanh Gươm
kiếm. Cái Áo gươm tượng cho những vùng đất Áo In the neighbourhood bao bọc chở che cho thanh gươm Ấn độ _ Ngài Quắc. – Heinrich này, cậu nghiên cứu Thổ
Nhĩ
Kỳ
và Hy lạp, có thể cho biết ý nghĩa cái Áo gươm đeo bên mình nhân vật to lớn y phục màu Huyết dụ ảnh 3 Hội họa Hy lạp _ Ông Poebens?
– Tôi bắt đầu từ nhân vật chột mắt trái đánh nhau với Ngôi sao thành Eger nước Ba
đất Ba. Lịch sử hình thành quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ: Phía Đông có giống Thổ
áp sát. (Phía Tây có giống Sel- bao bọc.) Hình nhân trần truồng như người rừng ngồi bên trái bức tượng gỗ Thần Hiểm (trước mặt ông ta là đá “ném” sang nước Ba). Tay phải hình nhân này “giấu” cái tai. Tay trái cầm cái cây cụt, ngọn cắm xuống đất, gốc chổng lên Trời ý rằng: Thổ Nhĩ Kỳ, đất ông ta đang yên vị là phần ngọn của cái cây lớn Ai cập. Ông ta là giống Thổ, Phạn Phoenix Phương Nam tức quái vật S’phin’x _ Ông Heinrich. – Còn hình nhân đeo cái Áo gươm Nghiêu từ Thần Hiểm bước sang nước Ba, người đó là… Ông Poebens? – Là Đức Mẹ Đồng Trinh Ma’ri’a Ai cập – Ông Heinrich. – Đức Mẹ ư, chúng tôi không thấy cái gì để gọi là Mẹ cả. Cậu có thể làm rõ được không Heinrich _ Chủ tọa Poebens? Ông Heinrich quay mặt giấu cái cười lặc khặc theo thói quen khi vào những chuyện vui: – Ôi Đức Mẹ! Các ngài xem bàn tay trái ảnh 4 của tôi và bàn tay trái hình nhân Đức Mẹ như đang nắm chặt cán kiếm ảnh 5. Hai ngón trỏ và giữa của Bà tẽ ra để lòi cái đóc kiếm làm cái Âm chiển ở giữa. 
Chú thích: (1) Bạn đọc xem thêm họa tiết con cú mèo nguyên sắc đen bên tai trái vua Nghiêu, nó vốn là giọt tinh được phóng ra từ cha Sò nhân vật thứ 2. Còn họa tiết trên cái sừng trên bên phải là chó mõm dài Thần Hiểm, nó vốn có trên đầu vị K’ai’sser Hoàng đế này.
Phù Đổng Thiên Vương trang 71
Đưa mắt xuống cử tọa, ông Poebens nói: – Thưa quý vị! Như vậy Nghiêu(1) ta không chỉ viếng thăm nước Yên Tư Ngao, chàng còn lên nước Ba với Eva khờ dại(2) trong lốt A’dam mù lòa. Điều này Sử ký Geschlichte đã nói: Nước Tần
Tỳ(3) đầu tiên diệt nước Ba, tiếp theo diệt 5 nước còn lại là Thục(4), Hàn, Trung, Uyển và Việt(Yên) nước cuối cùng. Cử tọa gật gù trầm ngâm như tán đồng tính khôi hài hóm hỉnh của ông Heinrich và thái độ chân phương nghiêm túc của chủ tọa Poebens. Song, hơn ai họ biết họ nghĩ gì. Những cái Trọng cơm Anatschüssell đã hoàn toàn nhẵn thín. Kể cả 1 lát riềng ngọt với đôi cọng sả thơm đậm đà bản sắc Tây vực Mộc tồn mà thường nhật chẳng ai buồn đụng đũa. – Thưa chủ tọa Poebens, chúng ta cần tiếp tục điểm tâm để nhanh chóng đi sâu vào Tâm điểm! Có tiếng ai gọi từ 1 nơi nào đó. Mọi người nhìn thấy ngài LiemSag, 1 thành viên chính thức của Hội thảo, suốt từ sang đến giờ ngài ngồi thu lu trong góc phòng lặng lẽ theo dõi những diễn biến. – Thưa ngài LiemSag, bà Doris với chó mõm ngắn vẫn còn bên Hy lạp _ Ông Poebens! – Tôi được biết còn Cá và Cà, tại sao chúng ta không tiếp tục điểm tâm các món đó _ Ngài LiemSag? Ông Poebens nhìn mọi người: – Ý ngài LiemSag là thế, còn chúng ta thưa các ngài? Cử tọa xì xào như đang phân tâm “nửa nọ nửa kia” thì: “Chúng tôi đồng ý tiếp tục chơi món Cá Cà”. Giật mình rồi họ cũng nhớ ra, đó là ông Touxen và bà Nothomb, 2 cử tọa người Lỗ.
Chú thích: (1)Chữ vua Nghiêu
gồm chữ ngột
cao ngây ngất nhưng bằng đầu tượng cho Ai cập ở dưới. Tiếp lên là 2 chữ độ
Thổ tượng cho đất Java Indonesia và đất Môn Myamar. Chữ Thổ trên cùng tượng cho đất Ba Greek. Thời Thượng cổ chỉ có 4 vùng đất nói trên. (2)Eva và Adam là 2 nhân vật văn chương trong Kinh thánh. E’va (va, ve, vệ khí) Eva là nguyên khí
nước Ba. A’dam: Dam giải
con cua đồng. Dam là tên thụy(tên cúng cơm) của Lão tử. (3)Tần còn đọc Tỳ, nước Tần Tỳ nằm ngoài 6 nước mà Tần thôn tính. (4)Nước Thục
, (còn gọi là Thục xuyên) đất của người Hán
, 1 giống Man
di từ Ấn độ. Nước này thuộc tỉnh Tứ xuyên China bây giờ.
Phù Đổng Thiên Vương trang 72
Ông Poebens hỏi lại cử tọa: – Thưa các ngài? Ai đồng ý kiến với ông Touxen, bà Nothomb và ngài LiemSag? Lại gật gù trầm ngâm, cử tọa lặng im như trước cơn binh lửa
tẫn. Đi đi lại lại trong phòng, ông Poebens lẩm bẩm: “Đành rằng cẩu vật là món dùng để chơi ăn nhưng… Chúng lại có trong thực đơn mục điểm tâm của chương trình”. Đang lúng túng tìm phép giải vụ “người đòi ăn, kẻ nhẫn nhịn” này thì… May thay ngài Quắc đỡ lời giúp ông: – Thôi các cụ! Ăn uống mọi người phải đầy đủ. Bởi không thiên hạ họ chê cười. Rằng Hội thảo Pharaon II, văn tuy hay nhưng lễ dốt. Chủ tọa Poebens thở phào như trút được gánh nặng: – Còn chúng ta ai đồng ý kiến với ngài Quắc? – Chúng tôi đồng ý chờ bằng được bà Doris với chó mõm ngắn _ Cử tọa nhất loạt đồng thanh. – Heinrich này, Geschlichte Sử ký bàn đến đâu rồi nhỉ? _ Ông Poebens hỏi. – Thưa, nước Tần đầu tiên diệt nước Ba! Ông Heinrich trả lời. – Chúng ta tiếp tục chương trình _ Ông Poebens _ Thưa quý vị, thống nhất được Thiên hạ, nước Tần phía Bắc có nước Ba
. Phía Nam có Chính Mình và Uyển
, Yên
. Phía Đông có
Thục, Hàn
, Tang
(Nhật bản). Đất Tần Tỳ bây giờ to lớn lắm nên gọi là Sái
nước Thái. – Thưa ông Poebens! Vậy thì vùng đất Sông Phần mà Tần Thủy Hoàng đang thống lĩnh phải gọi là nhà Tần
tư gia của Tần, Sái
Thái? – Đúng vậy thưa ngài Quắc _ Ông Poebens _ “Tần Thủy Hoàng bản kỷ” trong Tư Mã Thiên Sử ký nói rằng: Thủy hoàng thì ngài bỏ chữ Thủy thay bằng chữ Thái, lấy chữ hoàng và thêm chữ đế
.Nghĩa là gốc rễ của vị Thái hoàng này là Thái thượng, (Thái trên) bên phải phương Tây Nam nước Tây
vực
. Mời các ngài xem lại dòng nước vàng Sông Phần Hội họa Nhật bản ảnh 1 và ảnh 2 Hội họa China: Nửa dưới như của 1 Quả phụ mặc váy màu phân Người và Huyết dụ trong ảnh là Hậu Thiên, Trời sau Ai cập. “Bà ta” đứng chủ dòng nước vàng Sông Phần ảnh bên.
Bức họa China này bàn về cao thấp so đo giữa Hán Tibet(hình nhân béo lùn, y phục nguyên sắc đen, đủ cả 2 phần đầu và thân trên dưới) và người Hung Nô(hình nhân chỉ 1 nửa dưới người đàn bà, bên chân phải có họa tiết chữ Nhân_Người). Cả hai đội chung 1 cái mũ chữ Ngột
bằng đầu, hai dải mũ nối 2 “người” là 2 nét phải trái chữ Ngột
cao ngây ngất. Bức họa này có tên “cá đối bằng đầu”.
Phù Đổng Thiên Vương trang 73
– Đúng vậy, thưa ông Poebens _ Ngài Quắc phụ họa _ Lão Tử(1) nói: “Đạo sinh I, I sinh II, II sinh III, III sinh tất cả. Tôi nghĩ Đạo
là khai(mở): Như 5 vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vận hành tương sinh từ trái sang phải khiến quả đất quay mở(khai) Thế giới. Người xưa gọi là Thiên
Đạo
Đạo Trời. – Ôi, ngài Quắc lệch vai mà nhận thức rất công bình về Lão Tử. Nhưng mà này… Tại sao bấy lâu ngài cứ vờ vịt như 1 diễn viên _ Ông Poebens? Nhún cái vai lệch của mình: “Lệch vai thua trai lệch mồm”. Nói rồi ngài Quắc cắn chặt môi ngậm tiếng ho lục khục trong cổ họng. – Ngài Quắc này _ Ông Heinrich _ Người xứ πtagore thần thánh các con số Indo. Thông qua 3 con số của Lão Tử ngài có thể hóa giải sự lệch lạc này? – Muốn hiểu các con số Indo thì hỏi Edip thành Troy nước Ba _ Ngài Quắc! – Không đời nào tôi hỏi các nhà ông vua “giết” cha “lấy” mẹ ấy _ Ông Heinrich! – Vậy hỏi Trang Tử thì may ra… Ngài Quắc! – Cũng không! Ngài Quắc biết thầy Trang
chuyên chế nhạo thầy Khổng
là Konfus’ion Hỗn
độn chứ? – Thế thì ta khảo ngay “Lão nuôi khỉ chia củ” chương II Tề vật luận Nam hoa kinh của ông ta _ Ngài Quắc _ Lão nuôi khỉ chia củ nói: “Sớm cho ba chiều cho bốn”. Các khỉ đều giận. Nói “sớm cho bốn chiều cho ba”. Các khỉ bằng lòng. – Ngài Quắc này _ Ông Heinrich _ Tại sao “củ” lại “chia” cho khỉ. Khỉ lại biết “giận” và còn biết “bằng lòng”? Chỗ tôi hiểu khỉ là giống hái lượm, chúng không bới móc đào xới tìm “củ” như con người! – Thưa ông _ Ngài Quắc _ Người xưa cho rằng khỉ là Tổ tiên của họ. Là con người thì tình chí đàn ông với đàn bà khác nhau. Trước 1 vấn đề khi không bằng lòng, đàn bà thường tỏ ra giận dỗi, đó là đặc tính muôn đời của giống Cái! – Như vậy các cụ Tổ chúng ta là khỉ cái? _ Ông Heinrich. – Chứ sao! Nam hoa kinh Trang tử nói: “Mái thì hàng đàn hàng lũ mà không có trống”. Dương có công sinh, âm có công thành. Con gà mái có thể đẻ ra muôn trứng. Nhưng những quả trứng ấy không thể nở thành gà con một khi không có trống bởi “cô âm bất sinh” _ chỉ độc mái thì vô sinh hóa! Các khỉ chúng ta cũng thế! Các
là đồng đều, bằng nhau do chữ các nữa
là cái hộc, cái đấu, cái ao dùng để so đo. Đều là cái nên phải có đực để “chia đất cắm dùi”. Chia
cắm, củ
sừng, “cắm sừng” cho các cụ khỉ bắt họ đẻ ra Con người _ Ngài Quắc! – Ôi, ngài Quắc lệch vai mà không hề lệch miệng _ Ông Heinrich! Biết ông Heinrich nhắc mình giải mã thành ngữ nước Uyển Uyên “lệch vai thua trai lệch mồm”. Vì còn dính văn với “Lão nuôi khỉ chia củ” nên ngài Quắc giả tảng làm thinh. Ông Heinrich biết thế nên cũng làm bộ vô tình lảng về ý trước: – Ngài Quắc này! Tôi chỉ thấy Hầu
khỉ giao phối được với nhau mà chưa thấy ai, con người nào giao phối được với khỉ. Ngài nói rằng sự sống trái đất lúc này còn ở dạng khỉ. Vậy xin hỏi, ngài lấy đâu ra cái Lão Người nuôi khỉ kia để mà chia củ cắm sừng? – Ông nói đúng thưa ông Heinrich! Nam hoa kinh Trang Tử có chương XXXI Lão
đánh
cá
. Lão còn đọc Liêu. Cả 2 Lão đánh cá và Lão nuôi khỉ đều là giống rợ đuôi dài nửa người nửa khỉ phương Tây Nam. Ông xem con Liêu ảnh 1 Hội họa Ai cập và cái mặt người của con Liêu ảnh 2 Hội họa Ấn độ. 
Chú thích: (1)Tử
nghĩa 1 là con(con cái). Nghĩa 2 là khởi đầu do Tử còn đọc Tý, chi khởi đầu cho 12 Địa chi: Tý, Sửu… Tuất, Hợi. Ví dụ: Phật
tử
: Nét phật, phất bên phải Tây khởi đầu. Khổng
tử
: Sự trống rỗng, hư không khởi đầu. Lão
tử
: Giống rợ Liêu
Lão khởi đầu của Loài Người.
Phù Đổng Thiên Vương trang 74
– Thưa các ngài _ Chủ tọa Poebens _ Chúng ta vẫn đang truy tìm dấu chân của Triết gia Lão Tử. Một chữ Lý
dép chưa đủ sức chứng minh Lý Nhĩ thuộc loài đi dép Nội tộc Blutsverwandte Ai cập. Quắc Timua! Được biết vua Thuấn nhà Ngu Giao Chi “anh em như chân tay” với Hán Tibe, ngài có thể lục trong vốn Hán tự đồ sộ của mình thêm chữ Lý? – Chúng ta không bàn danh gọi Nhĩ của Lão Tử ư, thưa ông Poebens _ Ngài Quắc? – Nhĩ
là cái tai danh gọi của Lão Tử thì đã rõ. Ngài Quắc thấy những cái tai dỏng lên nghe Âm nhạc của Nhân sư Sphinx ảnh 1 và các Pharaon Ai cập ảnh 2 chứ? Bây giờ ngài có thể hình dung 2 cái tai Lý Nhĩ. Tai trái của ông đã bị cắt trong cuộc chiến MƯỢN ĐƯỜNG QUA NƯỚC NGU DIỆT QUẮC: “Giết được giặc phải cắt tai trái mang về” theo chủ trương của vua Nghiêu. Còn tai phải Lão Tử dùng nó dựng tượng thần Hiểm lên đất Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến của lính chân trần “NÉM ĐÁ GIẤU TAI” diệt nước Ba _ Ông Heinrich!
– Ôi, 2 cái tai 2 đầu Bắc Nam! Người ngợm gì mà to lớn thế hỡi Lão Tử _ Ngài Quắc? – Ngài Quắc! Đã có thêm chữ Lý nào nữa cống hiến cho Lão Tử _ Ông Poebens? – Theo tôi _ Ông Heinrich _ Chúng ta nên thả mình theo dòng Thủy Hoàng xuống Nhật bản ngắm những cái GHE to nhỏ của người Phù
Tang
thì mới rõ họ Lý của Lão Tử! – Nước Ngu là hàng xóm liền DẬU với nước Tỳ Tần nên tôi rất hiểu tính ngang ngạnh của Nghiêu cua kềnh. Theo tôi chúng ta nên bắt đầu chữ “kềnh” của ông ta mà khảo ngay Lão cưỡi trâu hành Lý
cồng kềnh như giống loài “nay đây mai đó” thì họ Lý trong danh tính của Lão Tử vốn rõ càng thêm rõ _ Ngài Quắc! – Tôi đồng ý _ Chủ tọa Poebens _ Mời các ngài xem những cái GHE to nhỏ ảnh 3 và ảnh 4 Hội họa Nhật bản. Tiếp theo chúng ta tiến hành khảo ngay bức họa Lão Tử ảnh 5. Tôi đề nghị ngài Quắc làm chủ cuộc đối thoại này!
– Ấy chết _ Ngài Quắc xua tay _ Tôi không có năng lực lấy cung kiểu Jave. Đề nghị cử ông Heinrich thì phù hợp hơn! – Ngài Quắc _ Ông Heinrich _ Xưa kia người Ngu dùng Hán tự của Hán Tibe, ngài làm chủ cuộc đối thoại này là đúng. Vào cuộc đi ngài Quắc và luôn nhớ chỉ “lệch vai” mà không được “lệch mồm” đâu nhé!

Phù Đổng Thiên Vương trang 75
Gãi đầu gãi tai so vai, ngài Quắc lom khom đến trước bức họa Lão Tử ảnh 1 chắp tay cung kính:
– Tử tôn Lão Liêu hiến dâng 2 vái! Cụ đi đâu mà hành lý cồng kềnh?
Lão Tử không đáp, đôi mắt ông hướng về bên phải bức họa.

– E hèm _ Ngài Quắc đánh tiếng.
– Ta vừa hoàn tất chuyến altPridigen hành giáo trên khắp 6 nước _ Lão Tử _ Bây giờ là hồi hương!
– Cụ về chốn “khỉ ho” hay nơi “cò gáy” _ Ngài Quắc?
– Về Tây vực, nơi có cái vực quắc mà con nòng nọc ta đã đứt đuôi. Ngươi không thấy mắt ta và con mắt phải ông trâu ta nôm(1)(cưỡi) hướng về Tây nam, bên trái ngươi ư _ Lão Tử?
– Thưa đã _ Ngài Quắc _ Nhưng tôi muốn rõ tại sao trâu sừng vểnh là thứ dùng để húc báng nhau, bây giờ cụ trở về bằng đôi sừng quệp, dây thừng lại buộc theo kiểu “trâu tháo cày”?
Lão Tử cũng không trả lời, đôi mắt lim dim như xẩm của ông vẫn nhìn về Tây nam bên phải bức họa ảnh 2.

– E hèm _ Ngài Quắc lại đánh tiếng.
– Quắc Timua làm sao thế, ngứa cái lỗ tai mà sinh ho ư? Để tôi nói với bà Nothomb xoi cho mấy cái là ngài hết ho liền _ Lão Tử!
Bà Nothomb đang chơi trò tung cơm cà với ông Touxen nghe Lão Tử gọi liền đứng dậy. Nháy mắt với ngài Quắc, bà che miệng giấu nụ cười tinh nghịch:
– Các ngài nhìn bàn tay phải và 2 ngón cái, trỏ bàn tay trái ảnh 3 của tôi. Ôi Liêu Tử! Té ra Nghiêu, nghêu, ngao chính là Ngài, 1 thứ gạo lòn xam xám(2) háo hức cho tâm điểm của con người là cái Phúc bụng ảnh 4.
Thiên nhiên đúc sẵn cái dày dày
(Thơ của người Nam Yên)

CHUYỆN VỀ PHÙ ĐỔNG
- PHẦN 1: THÁNH GIÓNG
- Thánh Gióng trang 1
- Thánh Gióng trang 2
- Thánh Gióng trang 3
- Thánh Gióng trang 4
- Thánh Gióng trang 5
- Thánh Gióng trang 6
- Thánh Gióng trang 7
- Thánh Gióng trang 8
- Thánh Gióng trang 9
- Thánh Gióng trang 10
- Thánh Gióng trang 11
- Thánh Gióng trang 12
- Thánh Gióng trang 13
- Thánh Gióng trang 14
- Thánh Gióng trang 15
- Thánh Gióng trang 16
- PHẦN 2: ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
- Đổng Thiên Vương trang 17
- Đổng Thiên Vương trang 18
- Đổng Thiên Vương trang 19
- Đổng Thiên Vương trang 20
- Đổng Thiên Vương trang 21
- Đổng Thiên Vương trang 22
- Đổng Thiên Vương trang 23
- Đổng Thiên Vương trang 24
- Đổng Thiên Vương trang 25
- Đổng Thiên Vương trang 26
- Đổng Thiên Vương trang 27
- Đổng Thiên Vương trang 28
- Đổng Thiên Vương trang 29
- Đổng Thiên Vương trang 30
- Đổng thiên vương trang 31
- Đổng thiên vương trang 32
- Đổng thiên vương trang 33
- Đổng thiên vương trang 34
- Đổng Thiên Vương trang 35
- Đổng Thiên Vương trang 36
- Đổng Thiên Vương trang 37
- Đổng Thiên Vương trang 38
- Đổng Thiên Vương trang 39
- Đổng Thiên Vương trang 40
- Đổng Thiên Vương trang 41
- Đổng Thiên Vương trang 42
- Đổng Thiên Vương trang 43
- Đổng Thiên Vương trang 44
- Đổng Thiên Vương trang 45
- Đổng Thiên Vương trang 46
- Đổng Thiên Vương trang 47
- Đổng Thiên Vương trang 48
- Đổng Thiên Vương trang 49
- Đổng Thiên Vương trang 50
- Đổng Thiên Vương trang 51
- Đổng Thiên Vương trang 52
- Đổng Thiên Vương trang 53
- Đổng Thiên Vương trang 54
- Đổng Thiên Vương trang 55
- Đổng Thiên Vương trang 56
- Đổng Thiên Vương trang 57
- Đổng Thiên Vương trang 58
- Đổng Thiên Vương trang 59
- Đổng Thiên Vương trang 60
- Đổng Thiên Vương trang 61
- Đổng Thiên Vương trang 62
- PHẦN 3: PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
- Phù Đổng Thiên Vương trang 63
- Phù Đổng Thiên Vương trang 64
- Phù Đổng Thiên Vương trang 65
- Phù Đổng Thiên Vương trang 66
- Phù Đổng Thiên Vương trang 67
- Phù Đổng Thiên Vương trang 68
- Phù Đổng Thiên Vương trang 69
- Phù Đổng Thiên Vương trang 70
- Phù Đổng Thiên Vương trang 71
- Phù Đổng Thiên Vương trang 72
- Phù Đổng Thiên Vương trang 73
- Phù Đổng Thiên Vương trang 74
- Phù Đổng Thiên Vương trang 75
Lịch
| H | B | T | N | S | B | C |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | |||
| 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 |
| 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 |
| 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 |
| 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | |



